Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng và hệ thống nhà trường Việt Nam hiện nay

Bài viết trình bày thực trạng những vấn đề xã hội của học sinh, phân tích nguyên nhân, hậu quả của nó, đồng thời, phân tích vai trò và các hoạt động của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xã hội và hệ thống nhà trường. Từ đó, bài báo khẳng định vai trò quan trọng và những thế mạnh đặc thù của NVCTXH trường học trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề xã hội của học sinh, góp phần thúc đẩy giáo dục – đào tạo những thế hệ tương lai của đất nước theo mục tiêu phát triển bền vững.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2017, Vol. 62, Iss. 4, pp. 174-183
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

DOI: 10.18173/2354-1075.2017-0070

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC
TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG
VÀ HỆ THỐNG NHÀ TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung
Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Bài báo trình bày thực trạng những vấn đề xã hội của học sinh, phân tích nguyên
nhân, hậu quả của nó; đồng thời, phân tích vai trò và các hoạt động của nhân viên công
tác xã hội (NVCTXH) trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xã hội và hệ
thống nhà trường. Từ đó, bài báo khẳng định vai trò quan trọng và những thế mạnh đặc thù
của NVCTXH trường học trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề xã hội của học
sinh, góp phần thúc đẩy giáo dục – đào tạo những thế hệ tương lai của đất nước theo mục
tiêu phát triển bền vững.
Từ khóa: Vấn đề xã hội của học sinh; nhân viên công tác xã hội, trường học.

1.

Mở đầu
Table 2. Descriptive statistics on people’s perceptions of changes
in quality of life in Dinh Bang and Dong Nguyen wards
Ward

income
Jobs
Đong
Urban
Nguyen
civilization
Urban
environment
Social evils
Valid N (listwise)

Surveyed
households
30
30

Minimum

Maximum

Average

1
1

3
3

1.4
1.66

Standard
deviation
0.56
0.66

30

1

2

1.7

0.46

30

3

3

3

0

30
30

1

1

1

0

Source: processed from survey data

Từ đổi mới tới nay, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng ở nhịp độ cao, thu nhập, đời
sống của đại đa số người dân được cải thiện. Tuy vậy, nhiều vấn đề xã hội gây bức xúc cũng xuất
hiện như nghèo đói, phân hoá giàu nghèo, vấn đề bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực đối với phụ
nữ và trẻ em, vấn đề mua bán phụ nữ và trẻ em, vấn đề lao động trẻ em, vấn đề mại dâm và ma
túy, vấn đề tội phạm,. . .
Ngày nhận bài: 15/1/2017. Ngày nhận đăng: 24/4/2017.
Liên hệ: Nguyễn Thị Mai Hồng, e-mail: maihongsw@yahoo.com.vn

174

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng...

Riêng đối với nhóm tuổi học đường cũng xuất hiện nhiều vấn đề như tình trạng bạo lực học
đường, vấn đề xâm hại trẻ trên mạng, tội phạm lứa tuổi vị thành niên, rào cản kì thị, phân biệt đối
xử với trẻ khuyết tật, trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nguy cơ rối nhiễu tâm trí lứa
tuổi học sinh tiểu học và trung học, tình trạng trẻ tự kỉ, tình trạng trẻ bị xâm hại, sao nhãng, sức ép
học hành và thi cử, sự rắc rối trong tình yêu, tình bạn, trong mối quan hệ thầy trò,. . . Tất cả những
vấn đề xã hội nêu trên đều để lại gánh nặng tâm lí nặng nề đối với học sinh, sinh viên. Nếu không
có những biện pháp can thiệp kịp thời, giúp đỡ các em giải toả gánh nặng tâm lí thì rất có thể sẽ
để lại các sang chấn tâm lí hay khủng hoảng về tinh thần, về lòng tin, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến kết quả học tập và sự phát triển bình thường của học sinh [11].
Giáo dục không chỉ là trách nhiệm của thầy cô giáo, những người làm trong ngành Giáo
dục mà còn là trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội. Hiện nay, mối liên kết giữa
các lực lượng trên đôi khi còn khá lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Vì
vậy, cần có dịch vụ kết nối giữa nhà trường, gia đình, xã hội, giúp khai thác tối đa những nguồn
lực có sẵn trong cộng đồng nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình giáo dục [5].
Với vai trò là hoạt động nghề nghiệp chuyên môn đa dạng và hướng đến đáp ứng nhu cầu,
quyền lợi đa dạng và chính đáng của học sinh, gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội, CTXH
trường học tham gia cung cấp các dịch vụ trực tiếp vi mô như tham vấn, tổ chức hoạt động nhóm
cho học sinh, gia đình, đến các hoạt động trung mô tại trường học, cộng đồng, và các hoạt động vĩ
mô như phát triển chính sách liên quan đến xây dựng môi trường gia đình, hệ thống nhà trường và
cộng đồng tạo sự phát triển lành mạnh cho học sinh [7].
Góp phần hiệu quả giải quyết những vấn đề xã hội của học sinh phổ thông, gia đình, cộng
đồng và hệ thống nhà trường chính là nhờ công tác của NVTCXH trường học.

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Một số vấn đề xã hội của học sinh phổ thông hiện nay – thực trạng, nguyên
nhân và hậu quả

2.1.1. Một số vấn đề xã hội của học sinh hiện nay
Trong điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
các vấn đề xã hội đối với học sinh ngày càng phức tạp, nhà trường hiện nay đang phải đối diện và
giải quyết nhiều vấn đề trong trường học như:
- Bạo lực học đường: Bạo lực học đường hiện nay đang gia tăng nhanh chóng cả về số
lượng và mức độ nguy hiểm ở cả hai loại hình: Bạo lực theo chiều dọc: thầy cô giáo với học sinh
và ngược lại; Bạo lực theo chiều ngang: giữa học sinh với nhau. Năm học 2012 – 2013 có 1600
vụ đánh nhau giữa học sinh (5 ngày/vụ); 5200 học sinh thì có 1 vụ đánh nhau; 11.000 học sinh thì
có 1 học sinh bị đuổi học vì đánh nhau; cứ 9 trường có 1 trường có học sinh đánh nhau (MOET
2013). Khảo sát của Viện Y – Xã hội (2014) cho thấy trong số 3000 học sinh khảo sát, có 80%
phải bị bạo lực giới, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng trước khảo sát. . . [9].
- Tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường cả nước trung bình là 12,2%, tiểu học là 4%, Trung học cơ sở
là 11,2%, trong đó nông thôn cao hơn thành thị, dân tộc thiểu số cao hơn dân tộc Kinh (UNICEF,
2016). 52% trẻ em dân tộc thiểu số học hết cấp trung học cơ sở (World Bank, 2014). Tỉ lệ người
khuyết tật và khuyết tật nặng chưa bao giờ đi học lần lượt là 19,2% và 45,6% (Tổng điều tra dân
số, 2009). Theo thống kê trong nghiên cứu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh
giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
UNICEF và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Hà Nội), 2009, có một tỉ lệ khá lớn trẻ khuyết
tật không được đi học, chỉ có 52% trẻ khuyết tật được tiếp cận với giáo dục, trong đó 33% trẻ
175

Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung

khuyết tật bị mù chữ. Trong số những trẻ khuyết tật được đi học, hệ thống giáo dục chia tách các
loại khuyết tật và xếp các em vào những trường học hoặc lớp học riêng [3].
- Tăng nguy cơ tự tử: 17% học sinh có ý định tự tử (MOH và MOET, 2015). Chỉ có 16%
học sinh nữ và 19% học sinh nam cảm thấy luôn luôn an toàn trong khuôn viên trường (Viện Y –
Xã hội và Plan Việt Nam, 2014) [9].
- Ngoài các vấn đề nêu trên, còn có nhiều các vấn đề khác đang tồn tại trong học sinh cũng
đang rất cần được hỗ trợ để giải quyết như: Các vấn đề rối nhiễu hành vi (tự làm đau bản thân, tự
tử...); Vấn đề sức khoẻ tâm thần (lo âu, trầm cảm); Các vấn đề trong gia đình (li thân, li hôn, bạo
lực gia đình, gia đình nghiện rượu, nghiện ma túy...); Các vấn đề quan hệ xã hội; Trốn học; Khó
khăn trong học tập; Các vấn đề về sức khoẻ; Mang thai; Tham gia băng đảng; Phạm tội, ăn hiếp
bạn tại trường học (đánh, chửi nhau, nhạo báng qua các mạng xã hội như instagram, facebook,
zalo, viber...); Bị lạm dụng, ngược đãi; Mâu thuẫn với giáo viên; Các vấn đề liên quan đến pháp
luật [5].

2.1.2. Nguyên nhân của các vấn đề xã hội của học sinh
- Các vấn đề xã hội nảy sinh từ mối quan hệ dạy – học giữa giáo viên và học sinh: Trong
môi trường học đường, thi thoảng vẫn có những biểu hiện tiêu cực của một số giáo viên như trù
dập, mắng chửi, đánh đập học sinh,... làm mất đi sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau giữa giáo viên
với giáo viên, học sinh với học sinh. Một môi trường không đảm bảo sự thân thiện, tin cậy, an toàn
sẽ khiến học sinh lo lắng, bất an và không yên tâm học tập;
- Các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ bạn bè: Quan hệ bạn bè là một trong những
hoạt động chủ đạo của học sinh. Giữa các em có thể xuất hiện những hiểu lầm, hiềm khích, sự
ganh ghét, đố kị,... Trong khi đó, không phải học sinh nào cũng có kĩ năng kiểm soát sự giận dữ,
hay cách giải toả những ức chế hoặc cách thương lượng để giải quyết mâu thuẫn không cần bạo
lực. Tình trạng bắt nạt học đường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bỏ
học, trốn học vì các em sợ hãi khi đến trường;
- Các vấn đề xã hội của học sinh có nguyên nhân từ gia đình: Dưới sự tác động của nền kinh
tế thị trường, gia đình cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề và điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến
nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập của các em. Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn xa, mải mê kiếm tiền,
không có thời gian trò chuyện tâm sự, chia sẻ với các con; gia đình bố mẹ li hôn, li thân, bạo lực
gia đình; gia đình mà bố mẹ mắc các tệ nạn xã hội như nghiện rượu, cờ bạc, lô đề, ma túy,... Tất
cả những điều này đều tác động rất mạnh mẽ đến tâm lí, tình cảm và kết quả học tập của học sinh.
Các em có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng, bị trầm cảm, có thể có ý muốn tự tử, bỏ học, bỏ
nhà.
- Các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ gia đình, nhà trường và cộng đồng. Hiện
nay, mối liên kết giữa các lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trường, cộng đồng còn khá lỏng lẻo,
dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Ví dụ, nếu một học sinh hư, học kém thì gia đình
đổ lỗi cho nhà trường, còn nhà trường thì lại đổ lỗi cho gia đình, cho cộng đồng xã hội.

2.1.3. Hậu quả của các vấn đề xã hội ở học sinh, sinh viên
– Ảnh hưởng đến tâm lí: Dẫn đến nhiều vấn đề về tâm lí nghiêm trọng hơn như trầm cảm;
tăng nguy cơ tự tử. Chỉ có 16% học sinh nữ và 19% học sinh nam cảm thấy luôn luôn an toàn trong
khuôn viên trường (Viện Y – Xã hội và Plan Việt Nam, 2014).
– Ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng; Ảnh hưởng đến học tập và phát triển toàn diện. Trẻ
em mất đi một trong những quyền quan trọng nhất để đảm bảo an sinh trong tương lai.
– Là nguyên nhân của nhiều vấn nạn xã hội khác.
176

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng...

2.2.

Ưu thế và sự phù hợp của công tác xã hội. Vai trò của nhân viên công tác
xã hội trường học trong việc giải quyết vấn đề xã hội của học sinh

- Ưu thế và sự phù hợp của CTXH trường học được thể hiện rất rõ ở các điểm như sau: Vai
trò của CTXH; cơ sở pháp lí của CTXH; mạng lưới dịch vụ CTXH; hiệu quả của một số mô hình
trong thực tiễn; Cách tiếp cận chính (Hệ thống sinh thái, tập trung điểm mạnh); Phương thức hoạt
động chính (Phòng ngừa; Lượng giá; Nhóm; Vãng gia; Cá nhân; Tham vấn; Tư vấn).
- CTXH trường học là một chuyên ngành của CTXH và là một chuyên ngành có vị trí quan
trọng. Với vị trí là một chuyên ngành thì CTXH trường học có đối tượng tác động riêng, đối tượng
chính đó là: học sinh – nhà trường (giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục...) – gia đình học sinh – cộng
đồng xã hội; có phương pháp tác nghiệp riêng nhưng cũng không tách rời những phương pháp
chung của CTXH.

177

Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung

- Đây là một dịch vụ đặc biệt trong trường học nhằm hỗ trợ những ai tham gia vào môi
trường học đường (học sinh, sinh viên, giáo viên, phụ huynh, cán bộ nhà trường và những nhà
quản lí giáo dục ở tất cả các bậc học). NVCTXH trường học là người thực hiện vai trò nhiệm vụ
của mình tại trường học là trợ giúp giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong nhà trường; là
cầu nối giữa học sinh – gia đình – nhà trường – cộng đồng để giúp các em có điều kiện phát huy
hết khả năng cho việc học tập đạt kết quả tốt nhất. Như vậy, NVCTXH trường học là những người
được huấn luyện đặc biệt để làm việc với học sinh, trong trường học.

2.2.1. Phối hợp hoạt động giữa nhân viên công tác xã hội trường học với gia đình, cộng
đồng xã hội và hệ thống nhà trường trong việc giải quyết vấn đề xã hội của học sinh
Hoạt động của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình
Một số vấn đề xã hội gây nên những căng thẳng, khủng hoảng tâm lí của học sinh hiện nay
– từ phía gia đình:
Thứ nhất, trong nhiều gia đình, cha mẹ mải lo làm ăn kinh tế, không quan tâm đến việc học
hành của con cái; họ phó mặc việc giáo dục cho nhà trường, đoàn thể.
Thứ hai, các bậc cha mẹ chưa có quan niệm thống nhất về mục đích, nhiệm vụ giáo dục thế
hệ trẻ theo yêu cầu đối với người công dân của xã hội mới. Một số vẫn coi trọng lợi ích trước mắt
mà coi nhẹ tương lai lâu dài của con cái theo quan niệm “Học tốt không bằng thằng dốt lắm tiền”.
Thứ ba, tình trạng gia đình li hôn khá phổ biến hoặc bố mẹ phạm pháp phải đi cải tạo hoặc
thiếu gương mẫu, không làm tròn nghĩa vụ của người công dân,. . . cũng gây hậu quả xấu trong
giáo dục gia đình, làm cho con cái không yên tâm học tập, buồn nản, đau khổ, làm phát sinh những
thói xấu.
Thứ tư, năng lực giáo dục, những hiểu biết về sự phát triển về các mặt sinh lí, tâm lí đối
với con cái của các bậc cha mẹ còn rất nhiều hạn chế nên chưa sử dụng được các biện pháp giáo
dục cho phù hợp với các tình huống đối với trẻ. Chẳng hạn, cha mẹ quá chiều chuộng vì chỉ có
một “cậu ấm”nên làm cho trẻ vòi vĩnh, không vâng lời, việc gì cũng ỷ lại cho cha mẹ; quá khắt
khe bảo thủ gây cho trẻ phản ứng gay gắt, gây mâu thuẫn trong gia đình; buông lỏng cho trẻ hoàn
toàn tự do hành động, hoặc cũng có những gia đình kinh doanh, làm các dịch vụ bất chính để kiếm
được nhiều tiền như chứa chấp mại dâm, buôn bán văn hoá phẩm đồi trụy cũng làm con cái sớm
bị nhiễm độc.
Hoạt động của NV CTXH trường học trong mối quan hệ với gia đình, thể hiện:
Trước tiên, các nhà tâm lí học đã chứng minh rằng gia đình là thiết chế xã hội đầu tiên quyết
định sự hình thành nhân cách con người. Trong các lớp của cấu trúc nhân cách thì lớp căn bản, có
ý nghĩa tạo dựng được gọi là nhân cách gốc được hình thành chủ yếu trong môi trường gia đình.
Xã hội hoá thông qua tình cảm, bằng tình cảm là đặc trưng riêng của gia đình. Một ưu thế nữa của
giáo dục gia đình là gia đình có được sự hiểu biết sâu sắc, cụ thể đối tượng giáo dục về các mặt
trí lực, sức khoẻ, cá tính, hoàn cảnh, điều kiện sống... Do đó, gia đình có thể áp dụng những biện
pháp giáo dục riêng, đặc thù phù hợp với từng cá nhân cụ thể đạt được hiệu quả mong muốn.
Tính đặc thù của các chức năng xã hội hoá của gia đình làm cho gia đình trở thành một thiết
chế xã hội hoá trong mối quan hệ phân công và hợp tác với các thiết chế xã hội hoá khác trong
việc đào tạo con người. Trong xã hội hiện đại, mỗi cơ quan xã hội hoá chỉ có thể chịu trách nhiệm
và đáp ứng được một phần yêu cầu xã hội hoá của xã hội. Nhưng ngay cả phần xã hội hoá mà một
cơ quan xã hội hoá có chức năng thực hiện cũng sẽ khó thành công nếu không được sự bổ sung,
hỗ trợ của các cơ quan xã hội hoá khác. Sự phối hợp giữa các cơ quan xã hội hoá khác cũng chính
là điều kiện không thể thiếu để mỗi cơ quan làm tốt chức năng xã hội hoá của mình. Những mặt
mạnh đó bổ sung cho những thiếu hụt của giáo dục nhà trường.
178

Tài liệu cùng danh mục Giáo dục học

Didactic Reform: Organising Learning Projects on Distance and Applications in Taxicab Geometry for Students Specialising in Mathematics

In the early 20th century, Hermann Minkowski (1864-1909) proposed an idea about a new metric, one of many metrics of non-Euclidean geometry that he developed called Taxicab geometry. The purpose of this paper is to design activities so that students can construct the concept of distance and realise practical applications of Taxicab geometry.


Ebook Giáo dục học đại cương: Phần 1 – Trần Anh Tuấn (chủ biên)

Ebook “Giáo dục học đại cương” này có cấu trúc gồm 2 phần, trong đó phần 1 đề cập đến những vấn đề chung – Giáo dục trong xã hội và phần 2 là quá trình giáo dục trong nhà trường - Giáo viên và học sinh. Trong phần 1 của ebook sau đây sẽ trình bày một số nội dung như: Giáo dục và giáo dục học, giáo dục và sự phát triển, mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân. Mời các bạn cùng tham khảo.


Ebook Cẩm nang nuôi dạy con theo phương pháp Montessori: Phần 1 - Quốc Tú Hoa

Cuốn sách Cẩm nang nuôi dạy con theo phương pháp Montessori được biên soạn nhằm giúp các bậc phụ huynh “đọc hiểu” và nắm bắt có hiệu quả tinh thần thực sự của phương pháp Montessori trong việc nuôi dạy con. Phần 1 của cuốn sách giúp người đọc khám phá bí mật của tuổi thơ thông qua các phát hiện của Montessori, nguyên tắc giáo dục của Montessori hay việc chứng kiến những kỳ tích của trẻ. Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp cho bạn đọc cách tạo thói quen cho trẻ để hình thành trong trẻ một cuộc sống nề nếp hay cách tạo trật tự trong việc phát triển tâm lý trẻ. Mời các bạn cùng tham khảo.


TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS)

1. Những đặc điểm của hoạt động dạy học ở trường THCS (1 tiết) - Hoạt động dạy học ở trường THCS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục trung học, cụ thể: + Hình thành được cơ sở học vấn phổ thông THCS = hình thành cho thanh thiếu niên có một trình độ văn hóa phổ thông của dân tộc trong vài tập kỷ tới. + Chuẩn bị cho học sinh có thể Học lên THPT Học nghề kỹ thuật Bước vào cuộc sống lao động + Đây là cấp học kế thừa thành tựu của...


Bài giảng khoa Quản trị - Bùi Quang Xuân

Bài giảng khoa Quản trị - Bùi Quang Xuân trình bày về cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đòi hỏi xác định lại vai trò của người thầy, đổi mới mạnh mẽ dạy và học theo hướng KHCN, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tới giáo dục đào tạo,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975)

Theo tác giả, nền giáo dục trước đây tại miền Nam đã đóng góp khá nhiều vào việc tạo nên một xã hội yên bình. Kết quả đó có được trước hết là nhờ xuất phát điểm của nền giáo dục phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc và văn minh nhân loại. Tiếp đến là nhờ sự ổn định của môi trường xã hội, xét trên cả khía cạnh đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, bởi một xã hội tốt thì học đường và gia đình mới có thể trở nên tốt. Từ đó nghĩ về sự xuống cấp của nền giáo dục hiện nay, tác giả cho rằng phải chăng các chủ trương cải cách đưa ra đều chưa chạm đến những vấn đề cốt lõi quyết định sự thành bại nền giáo dục của đất nước.


Module Mầm non 14: Phương pháp tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội - Nguyễn Thị Quyên, Lương Thị Bình

Module Mầm non 14: Phương pháp tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội trang bị cho giáo viên mầm non một số kiến thức và kĩ năng tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục.


Ebook The essentials of statistics - A tool for social research (3th edition): Part 1

Healey's practical, easy-to-follow book explains the basics of statistics, emphasizing practical application and skill development rather than complicated math. The text's numerous study tools help you review concepts and prepare for examinations.


Ebook Phương pháp nghiên cứu khoa học (dùng cho sinh viên khối ngành Xã hội nhân văn)

(NB) Ebook Phương pháp nghiên cứu khoa học (dùng cho sinh viên khối ngành Xã hội nhân văn) được biên soạn nhằm mục đích phục vụ cho sinh viên bậc đại học thuộc khối ngành Xã hội nhân văn. Tài liệu bao gồm các khái niệm và trình tự căn bản trong nghiên cứu khoa học, các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính phổ biến trong lĩnh vực Xã hội nhân văn.


Đổi mới phương pháp giảng dạy với bài giảng điện tử, khắc phục việc đọc - chép ở Cao đẳng, Đại học

Bài viết "Đổi mới phương pháp giảng dạy với bài giảng điện tử, khắc phục việc đọc - chép ở Cao đẳng, Đại học" nêu lên những ưu điểm của phương pháp giảng dạy bằng bài giảng điện tử so với phương pháp truyền thống, giải pháp khắc phục việc thầy đọc, trò ghi, nhằm trao đổi kinh nghiệm cải tiến phương pháp, nâng cao chất lượng trong đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học.


Tài liệu mới download

tài liệu về diode
  • 05/01/2011
  • 81.055
  • 997
Mẫu Quản lí nghỉ phép năm
  • 02/04/2019
  • 88.493
  • 514

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn tự học
  • 22/09/2015
  • 53.454
  • 810
How to be a good teacher
  • 20/07/2012
  • 22.654
  • 616

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu