Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng và hệ thống nhà trường Việt Nam hiện nay

Bài viết trình bày thực trạng những vấn đề xã hội của học sinh, phân tích nguyên nhân, hậu quả của nó, đồng thời, phân tích vai trò và các hoạt động của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xã hội và hệ thống nhà trường. Từ đó, bài báo khẳng định vai trò quan trọng và những thế mạnh đặc thù của NVCTXH trường học trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề xã hội của học sinh, góp phần thúc đẩy giáo dục – đào tạo những thế hệ tương lai của đất nước theo mục tiêu phát triển bền vững.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2017, Vol. 62, Iss. 4, pp. 174-183
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

DOI: 10.18173/2354-1075.2017-0070

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC
TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG
VÀ HỆ THỐNG NHÀ TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung
Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Bài báo trình bày thực trạng những vấn đề xã hội của học sinh, phân tích nguyên
nhân, hậu quả của nó; đồng thời, phân tích vai trò và các hoạt động của nhân viên công
tác xã hội (NVCTXH) trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xã hội và hệ
thống nhà trường. Từ đó, bài báo khẳng định vai trò quan trọng và những thế mạnh đặc thù
của NVCTXH trường học trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề xã hội của học
sinh, góp phần thúc đẩy giáo dục – đào tạo những thế hệ tương lai của đất nước theo mục
tiêu phát triển bền vững.
Từ khóa: Vấn đề xã hội của học sinh; nhân viên công tác xã hội, trường học.

1.

Mở đầu
Table 2. Descriptive statistics on people’s perceptions of changes
in quality of life in Dinh Bang and Dong Nguyen wards
Ward

income
Jobs
Đong
Urban
Nguyen
civilization
Urban
environment
Social evils
Valid N (listwise)

Surveyed
households
30
30

Minimum

Maximum

Average

1
1

3
3

1.4
1.66

Standard
deviation
0.56
0.66

30

1

2

1.7

0.46

30

3

3

3

0

30
30

1

1

1

0

Source: processed from survey data

Từ đổi mới tới nay, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng ở nhịp độ cao, thu nhập, đời
sống của đại đa số người dân được cải thiện. Tuy vậy, nhiều vấn đề xã hội gây bức xúc cũng xuất
hiện như nghèo đói, phân hoá giàu nghèo, vấn đề bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực đối với phụ
nữ và trẻ em, vấn đề mua bán phụ nữ và trẻ em, vấn đề lao động trẻ em, vấn đề mại dâm và ma
túy, vấn đề tội phạm,. . .
Ngày nhận bài: 15/1/2017. Ngày nhận đăng: 24/4/2017.
Liên hệ: Nguyễn Thị Mai Hồng, e-mail: maihongsw@yahoo.com.vn

174

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng...

Riêng đối với nhóm tuổi học đường cũng xuất hiện nhiều vấn đề như tình trạng bạo lực học
đường, vấn đề xâm hại trẻ trên mạng, tội phạm lứa tuổi vị thành niên, rào cản kì thị, phân biệt đối
xử với trẻ khuyết tật, trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nguy cơ rối nhiễu tâm trí lứa
tuổi học sinh tiểu học và trung học, tình trạng trẻ tự kỉ, tình trạng trẻ bị xâm hại, sao nhãng, sức ép
học hành và thi cử, sự rắc rối trong tình yêu, tình bạn, trong mối quan hệ thầy trò,. . . Tất cả những
vấn đề xã hội nêu trên đều để lại gánh nặng tâm lí nặng nề đối với học sinh, sinh viên. Nếu không
có những biện pháp can thiệp kịp thời, giúp đỡ các em giải toả gánh nặng tâm lí thì rất có thể sẽ
để lại các sang chấn tâm lí hay khủng hoảng về tinh thần, về lòng tin, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến kết quả học tập và sự phát triển bình thường của học sinh [11].
Giáo dục không chỉ là trách nhiệm của thầy cô giáo, những người làm trong ngành Giáo
dục mà còn là trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội. Hiện nay, mối liên kết giữa
các lực lượng trên đôi khi còn khá lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Vì
vậy, cần có dịch vụ kết nối giữa nhà trường, gia đình, xã hội, giúp khai thác tối đa những nguồn
lực có sẵn trong cộng đồng nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình giáo dục [5].
Với vai trò là hoạt động nghề nghiệp chuyên môn đa dạng và hướng đến đáp ứng nhu cầu,
quyền lợi đa dạng và chính đáng của học sinh, gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội, CTXH
trường học tham gia cung cấp các dịch vụ trực tiếp vi mô như tham vấn, tổ chức hoạt động nhóm
cho học sinh, gia đình, đến các hoạt động trung mô tại trường học, cộng đồng, và các hoạt động vĩ
mô như phát triển chính sách liên quan đến xây dựng môi trường gia đình, hệ thống nhà trường và
cộng đồng tạo sự phát triển lành mạnh cho học sinh [7].
Góp phần hiệu quả giải quyết những vấn đề xã hội của học sinh phổ thông, gia đình, cộng
đồng và hệ thống nhà trường chính là nhờ công tác của NVTCXH trường học.

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Một số vấn đề xã hội của học sinh phổ thông hiện nay – thực trạng, nguyên
nhân và hậu quả

2.1.1. Một số vấn đề xã hội của học sinh hiện nay
Trong điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
các vấn đề xã hội đối với học sinh ngày càng phức tạp, nhà trường hiện nay đang phải đối diện và
giải quyết nhiều vấn đề trong trường học như:
- Bạo lực học đường: Bạo lực học đường hiện nay đang gia tăng nhanh chóng cả về số
lượng và mức độ nguy hiểm ở cả hai loại hình: Bạo lực theo chiều dọc: thầy cô giáo với học sinh
và ngược lại; Bạo lực theo chiều ngang: giữa học sinh với nhau. Năm học 2012 – 2013 có 1600
vụ đánh nhau giữa học sinh (5 ngày/vụ); 5200 học sinh thì có 1 vụ đánh nhau; 11.000 học sinh thì
có 1 học sinh bị đuổi học vì đánh nhau; cứ 9 trường có 1 trường có học sinh đánh nhau (MOET
2013). Khảo sát của Viện Y – Xã hội (2014) cho thấy trong số 3000 học sinh khảo sát, có 80%
phải bị bạo lực giới, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng trước khảo sát. . . [9].
- Tỉ lệ trẻ em ngoài nhà trường cả nước trung bình là 12,2%, tiểu học là 4%, Trung học cơ sở
là 11,2%, trong đó nông thôn cao hơn thành thị, dân tộc thiểu số cao hơn dân tộc Kinh (UNICEF,
2016). 52% trẻ em dân tộc thiểu số học hết cấp trung học cơ sở (World Bank, 2014). Tỉ lệ người
khuyết tật và khuyết tật nặng chưa bao giờ đi học lần lượt là 19,2% và 45,6% (Tổng điều tra dân
số, 2009). Theo thống kê trong nghiên cứu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh
giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
UNICEF và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Hà Nội), 2009, có một tỉ lệ khá lớn trẻ khuyết
tật không được đi học, chỉ có 52% trẻ khuyết tật được tiếp cận với giáo dục, trong đó 33% trẻ
175

Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung

khuyết tật bị mù chữ. Trong số những trẻ khuyết tật được đi học, hệ thống giáo dục chia tách các
loại khuyết tật và xếp các em vào những trường học hoặc lớp học riêng [3].
- Tăng nguy cơ tự tử: 17% học sinh có ý định tự tử (MOH và MOET, 2015). Chỉ có 16%
học sinh nữ và 19% học sinh nam cảm thấy luôn luôn an toàn trong khuôn viên trường (Viện Y –
Xã hội và Plan Việt Nam, 2014) [9].
- Ngoài các vấn đề nêu trên, còn có nhiều các vấn đề khác đang tồn tại trong học sinh cũng
đang rất cần được hỗ trợ để giải quyết như: Các vấn đề rối nhiễu hành vi (tự làm đau bản thân, tự
tử...); Vấn đề sức khoẻ tâm thần (lo âu, trầm cảm); Các vấn đề trong gia đình (li thân, li hôn, bạo
lực gia đình, gia đình nghiện rượu, nghiện ma túy...); Các vấn đề quan hệ xã hội; Trốn học; Khó
khăn trong học tập; Các vấn đề về sức khoẻ; Mang thai; Tham gia băng đảng; Phạm tội, ăn hiếp
bạn tại trường học (đánh, chửi nhau, nhạo báng qua các mạng xã hội như instagram, facebook,
zalo, viber...); Bị lạm dụng, ngược đãi; Mâu thuẫn với giáo viên; Các vấn đề liên quan đến pháp
luật [5].

2.1.2. Nguyên nhân của các vấn đề xã hội của học sinh
- Các vấn đề xã hội nảy sinh từ mối quan hệ dạy – học giữa giáo viên và học sinh: Trong
môi trường học đường, thi thoảng vẫn có những biểu hiện tiêu cực của một số giáo viên như trù
dập, mắng chửi, đánh đập học sinh,... làm mất đi sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau giữa giáo viên
với giáo viên, học sinh với học sinh. Một môi trường không đảm bảo sự thân thiện, tin cậy, an toàn
sẽ khiến học sinh lo lắng, bất an và không yên tâm học tập;
- Các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ bạn bè: Quan hệ bạn bè là một trong những
hoạt động chủ đạo của học sinh. Giữa các em có thể xuất hiện những hiểu lầm, hiềm khích, sự
ganh ghét, đố kị,... Trong khi đó, không phải học sinh nào cũng có kĩ năng kiểm soát sự giận dữ,
hay cách giải toả những ức chế hoặc cách thương lượng để giải quyết mâu thuẫn không cần bạo
lực. Tình trạng bắt nạt học đường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bỏ
học, trốn học vì các em sợ hãi khi đến trường;
- Các vấn đề xã hội của học sinh có nguyên nhân từ gia đình: Dưới sự tác động của nền kinh
tế thị trường, gia đình cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề và điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến
nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập của các em. Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn xa, mải mê kiếm tiền,
không có thời gian trò chuyện tâm sự, chia sẻ với các con; gia đình bố mẹ li hôn, li thân, bạo lực
gia đình; gia đình mà bố mẹ mắc các tệ nạn xã hội như nghiện rượu, cờ bạc, lô đề, ma túy,... Tất
cả những điều này đều tác động rất mạnh mẽ đến tâm lí, tình cảm và kết quả học tập của học sinh.
Các em có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng, bị trầm cảm, có thể có ý muốn tự tử, bỏ học, bỏ
nhà.
- Các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ gia đình, nhà trường và cộng đồng. Hiện
nay, mối liên kết giữa các lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trường, cộng đồng còn khá lỏng lẻo,
dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Ví dụ, nếu một học sinh hư, học kém thì gia đình
đổ lỗi cho nhà trường, còn nhà trường thì lại đổ lỗi cho gia đình, cho cộng đồng xã hội.

2.1.3. Hậu quả của các vấn đề xã hội ở học sinh, sinh viên
– Ảnh hưởng đến tâm lí: Dẫn đến nhiều vấn đề về tâm lí nghiêm trọng hơn như trầm cảm;
tăng nguy cơ tự tử. Chỉ có 16% học sinh nữ và 19% học sinh nam cảm thấy luôn luôn an toàn trong
khuôn viên trường (Viện Y – Xã hội và Plan Việt Nam, 2014).
– Ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng; Ảnh hưởng đến học tập và phát triển toàn diện. Trẻ
em mất đi một trong những quyền quan trọng nhất để đảm bảo an sinh trong tương lai.
– Là nguyên nhân của nhiều vấn nạn xã hội khác.
176

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng...

2.2.

Ưu thế và sự phù hợp của công tác xã hội. Vai trò của nhân viên công tác
xã hội trường học trong việc giải quyết vấn đề xã hội của học sinh

- Ưu thế và sự phù hợp của CTXH trường học được thể hiện rất rõ ở các điểm như sau: Vai
trò của CTXH; cơ sở pháp lí của CTXH; mạng lưới dịch vụ CTXH; hiệu quả của một số mô hình
trong thực tiễn; Cách tiếp cận chính (Hệ thống sinh thái, tập trung điểm mạnh); Phương thức hoạt
động chính (Phòng ngừa; Lượng giá; Nhóm; Vãng gia; Cá nhân; Tham vấn; Tư vấn).
- CTXH trường học là một chuyên ngành của CTXH và là một chuyên ngành có vị trí quan
trọng. Với vị trí là một chuyên ngành thì CTXH trường học có đối tượng tác động riêng, đối tượng
chính đó là: học sinh – nhà trường (giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục...) – gia đình học sinh – cộng
đồng xã hội; có phương pháp tác nghiệp riêng nhưng cũng không tách rời những phương pháp
chung của CTXH.

177

Nguyễn Thị Mai Hồng, Vũ Hồng Nhung

- Đây là một dịch vụ đặc biệt trong trường học nhằm hỗ trợ những ai tham gia vào môi
trường học đường (học sinh, sinh viên, giáo viên, phụ huynh, cán bộ nhà trường và những nhà
quản lí giáo dục ở tất cả các bậc học). NVCTXH trường học là người thực hiện vai trò nhiệm vụ
của mình tại trường học là trợ giúp giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong nhà trường; là
cầu nối giữa học sinh – gia đình – nhà trường – cộng đồng để giúp các em có điều kiện phát huy
hết khả năng cho việc học tập đạt kết quả tốt nhất. Như vậy, NVCTXH trường học là những người
được huấn luyện đặc biệt để làm việc với học sinh, trong trường học.

2.2.1. Phối hợp hoạt động giữa nhân viên công tác xã hội trường học với gia đình, cộng
đồng xã hội và hệ thống nhà trường trong việc giải quyết vấn đề xã hội của học sinh
Hoạt động của nhân viên công tác xã hội trường học trong mối quan hệ với gia đình
Một số vấn đề xã hội gây nên những căng thẳng, khủng hoảng tâm lí của học sinh hiện nay
– từ phía gia đình:
Thứ nhất, trong nhiều gia đình, cha mẹ mải lo làm ăn kinh tế, không quan tâm đến việc học
hành của con cái; họ phó mặc việc giáo dục cho nhà trường, đoàn thể.
Thứ hai, các bậc cha mẹ chưa có quan niệm thống nhất về mục đích, nhiệm vụ giáo dục thế
hệ trẻ theo yêu cầu đối với người công dân của xã hội mới. Một số vẫn coi trọng lợi ích trước mắt
mà coi nhẹ tương lai lâu dài của con cái theo quan niệm “Học tốt không bằng thằng dốt lắm tiền”.
Thứ ba, tình trạng gia đình li hôn khá phổ biến hoặc bố mẹ phạm pháp phải đi cải tạo hoặc
thiếu gương mẫu, không làm tròn nghĩa vụ của người công dân,. . . cũng gây hậu quả xấu trong
giáo dục gia đình, làm cho con cái không yên tâm học tập, buồn nản, đau khổ, làm phát sinh những
thói xấu.
Thứ tư, năng lực giáo dục, những hiểu biết về sự phát triển về các mặt sinh lí, tâm lí đối
với con cái của các bậc cha mẹ còn rất nhiều hạn chế nên chưa sử dụng được các biện pháp giáo
dục cho phù hợp với các tình huống đối với trẻ. Chẳng hạn, cha mẹ quá chiều chuộng vì chỉ có
một “cậu ấm”nên làm cho trẻ vòi vĩnh, không vâng lời, việc gì cũng ỷ lại cho cha mẹ; quá khắt
khe bảo thủ gây cho trẻ phản ứng gay gắt, gây mâu thuẫn trong gia đình; buông lỏng cho trẻ hoàn
toàn tự do hành động, hoặc cũng có những gia đình kinh doanh, làm các dịch vụ bất chính để kiếm
được nhiều tiền như chứa chấp mại dâm, buôn bán văn hoá phẩm đồi trụy cũng làm con cái sớm
bị nhiễm độc.
Hoạt động của NV CTXH trường học trong mối quan hệ với gia đình, thể hiện:
Trước tiên, các nhà tâm lí học đã chứng minh rằng gia đình là thiết chế xã hội đầu tiên quyết
định sự hình thành nhân cách con người. Trong các lớp của cấu trúc nhân cách thì lớp căn bản, có
ý nghĩa tạo dựng được gọi là nhân cách gốc được hình thành chủ yếu trong môi trường gia đình.
Xã hội hoá thông qua tình cảm, bằng tình cảm là đặc trưng riêng của gia đình. Một ưu thế nữa của
giáo dục gia đình là gia đình có được sự hiểu biết sâu sắc, cụ thể đối tượng giáo dục về các mặt
trí lực, sức khoẻ, cá tính, hoàn cảnh, điều kiện sống... Do đó, gia đình có thể áp dụng những biện
pháp giáo dục riêng, đặc thù phù hợp với từng cá nhân cụ thể đạt được hiệu quả mong muốn.
Tính đặc thù của các chức năng xã hội hoá của gia đình làm cho gia đình trở thành một thiết
chế xã hội hoá trong mối quan hệ phân công và hợp tác với các thiết chế xã hội hoá khác trong
việc đào tạo con người. Trong xã hội hiện đại, mỗi cơ quan xã hội hoá chỉ có thể chịu trách nhiệm
và đáp ứng được một phần yêu cầu xã hội hoá của xã hội. Nhưng ngay cả phần xã hội hoá mà một
cơ quan xã hội hoá có chức năng thực hiện cũng sẽ khó thành công nếu không được sự bổ sung,
hỗ trợ của các cơ quan xã hội hoá khác. Sự phối hợp giữa các cơ quan xã hội hoá khác cũng chính
là điều kiện không thể thiếu để mỗi cơ quan làm tốt chức năng xã hội hoá của mình. Những mặt
mạnh đó bổ sung cho những thiếu hụt của giáo dục nhà trường.
178

Tài liệu cùng danh mục Giáo dục học

Giáo trình Phương pháp dạy học âm nhạc (Dùng cho ngành GD Mầm non hệ từ xa): Phần 2

Phần 1 Giáo trình Phương pháp dạy học âm nhạc (Dùng cho ngành GD Mầm non hệ từ xa) gồm nội dung chương III - Một số vấn đề về đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ở trường mầm non, chương IV - Các hình thức tổ chức hoạt động âm nhạc, chương V - Thiết kế bài soạn và tập dạy.


Giáo trình Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em: Phần 1 - PGS.TS, Nguyễn Ánh Tuyết

Phần 1 của cuốn Giáo trình Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em do PGS.TS, Nguyễn Ánh Tuyết biên soạn gồm 3 chương đầu có nội dung trình bày về: khái niệm chung về hành vi văn hóa, quá trình hình thành và phát triển hành vi văn hóa, nội dung giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi.


Chương VI. Một số vấn đề cơ bản về đấu thầu

Để đáp ứng nhu cầu mua sắm (hàng hóa, dịch vụ, công trình...) người mua (tổ chức, cá nhân) có thể tiến hành theo 2 cách: - Trao đổi trực tiếp (người mua đồng thời là người sở hữu khoản tiền dùng để mua sắm); - Tổ chức cuộc thi cho nhiều người bán tham gia. Trên cơ sở kết quả thi, chọn được người bán tốt nhất (giá cả, chất lượng hàng hóa dịch vụ, năng lực thi công, năng lực tài chính...)...


Phương pháp dạy học tích cực: hiện trạng và một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học thảo luận

Bài viết "Phương pháp dạy học tích cực: hiện trạng và một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học thảo luận" giới thiệu đến các bạn thực trạng, giải pháp, những nhận định và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của những giờ học thảo luận. Đồng thời bài báo cũng giới thiệu một cách thức tổchức và triển khai thảo luận mà bộ môn Cơ sở Thiết kế máy đang áp dụng. Hy vọng nội dung bài viết là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn.


Ebook Phương pháp học tốt hơn trường học tốt: Phần 1

Ebook Phương pháp học tốt hơn trường học tốt là cuốn sách giới thiệu phương pháp sáng tạo trong cách giáo dục con cái, hội tụ tâm huyết giáo dục nhiều năm của tác giả, kinh nghiệm và phương pháp hướng dẫn hiệu quả của tác giả là kim chỉ nam cho các bậc cha mẹ muốn bồi dưỡng, giáo dục con cái. Phần 1 của ebook sẽ giới thiệu đến các bạn những bài học kinh nghiệm sau: Phương pháp dạy con thành thần đồng, "thần đồng" khó xin học, niềm vui đứng đầu - mừng hay lo, quyết định tự dạy con học, ai cũng có thể thành tài, đánh thức sự tự tin ở trẻ,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Một số vấn đề lí luận chung về thiết kế bài kiểm tra định kì theo Thông tư 22 - PGS.TS. Nguyễn Công Khanh

Tài liệu tập huấn hỗ trợ và hướng dẫn giáo viên tiểu học cách thức thiết kế đề kiểm tra định kì các môn học theo thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT. Sau khi tập huấn mỗi giáo viên có hiểu biết rõ ràng, đầy đủ và thực hành biên soạn được các câu hỏi, bài tập cho đề kiểm tra định kì dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học theo 4 mức độ nhận thức. Mời quý thầy cô cùng tham khảo.


Bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học: Chương 4 - TS. Lê Quốc Tuấn

Bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học: Chương 4 - Thiết kế nghiên cứu khoa học có nội dung trình bày cách tiếp cận thiết kế nghiên cứu, lưu ý trong quá trình thiết kế nghiên cứu, cách trình bày ý tưởng bằng hình ảnh.


Quốc tế học và Khu vực học: Những khía cạnh phương pháp luận

Bài viết này bước đầu xác định rõ nội dung của khái niệm quốc tế học. Tiếp đó, bài viết tập trung làm sáng tỏ các khía cạnh chuyên môn của Khu vực học – một lĩnh vực cấu thành quốc tế học - ở các mặt: đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu. Mục đích của bài viết là cung cấp cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho việc xây dựng ngành quốc tế học ở Việt Nam.


Sử dụng đánh giá định hình nhằm thúc đẩy quá trình học Toán của học sinh lớp 11

Bài viết Sử dụng đánh giá định hình nhằm thúc đẩy quá trình học Toán của học sinh lớp 11 trình bày: Đánh giá định hình là xu hướng phát triển của đánh giá trong quá trình dạy học và đánh giá định hình có khả năng thúc đẩy quá trình học toán của học sinh,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Kế hoạch công tác Y tế học đường năm 2016-2017

Kế hoạch công tác Y tế học đường năm 2016-2017 được thực hiện với mục đích: Trang bị những đồ dùng thiết yếu cho phòng y tế; quản lí và chăm sóc sức khỏe trong nhà trường cho học sinh và cán bộ giáo viên, nhân viên; tuyên truyền, giáo dục tư vấn các vấn đề liên quan đến sức khỏe cho học sinh, CBGV-CNV nhà trường và cha mẹ học sinh vận động học sinh tham gia BHYT,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Tài liệu mới download

Đề thi casio môn hóa học
  • 04/10/2011
  • 17.773
  • 156
Luận văn Thiết kế web
  • 07/12/2012
  • 95.266
  • 930
ĐỘT QUỴ (STROKE)
  • 08/07/2011
  • 76.209
  • 901

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Nhà giáo Chu Văn An
  • 14/11/2013
  • 41.578
  • 369

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu