Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tích hợp kiến thức công nghệ và thực hành kĩ năng nghề trong đào tạo giáo viên kĩ thuật tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình TPACK

Năng lực dạy học của Giáo viên Kĩ thuật (GVKT) được hình thành và phát triển ngay trong quá trình dạy học (QTDH), đặc biệt là khả năng Chuyên môn Kĩ thuật, Kĩ năng thực hành nghề và ứng dụng sự tiến bộ của Công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy học (PPDH). Giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo các ngành Sư phạm Kĩ thuật (SPKT) tại trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSPKT TP. HCM) là xây dựng chương trình đào tạo theo mô hình nối tiếp, tăng cường cơ sở hạ tầng mạng internet cho việc đổi mới PPDH theo định hướng Blended Learning, thành lập Trung tâm Bồi dưỡng và đánh giá Kĩ năng nghề.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2017, Vol. 62, Iss. 4, pp. 91-99
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

DOI: 10.18173/2354-1075.2017-0061

TÍCH HỢP KIẾN THỨC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC HÀNH KĨ NĂNG NGHỀ
TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO MÔ HÌNH TPACK
Bùi Văn Hồng

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt. Năng lực dạy học của Giáo viên Kĩ thuật (GVKT) được hình thành và phát triển
ngay trong quá trình dạy học (QTDH), đặc biệt là khả năng Chuyên môn Kĩ thuật, Kĩ năng
thực hành nghề và ứng dụng sự tiến bộ của Công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH). Giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo các ngành Sư phạm Kĩ thuật (SPKT) tại
trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSPKT TP. HCM) là xây dựng
chương trình đào tạo theo mô hình nối tiếp, tăng cường cơ sở hạ tầng mạng internet cho
việc đổi mới PPDH theo định hướng Blended Learning, thành lập Trung tâm Bồi dưỡng và
đánh giá Kĩ năng nghề. Việc tích hợp kiến thức công nghệ và Kĩ năng thực hành nghề vào
chương trình đào tạo GVKT giúp sinh viên rèn luyện kĩ năng ứng dụng Công nghệ trong
dạy học, phát triển Kĩ năng thực hành, từ đó, nâng cao năng lực dạy học chuyên ngành kĩ
thuật.
Từ khóa: Giáo viên kĩ thuật; Tích hợp trong dạy học; TPACK; Kĩ năng thực hành nghề.

1.

Mở đầu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Khoa học – Kĩ thuật, các sản phẩm công nghệ cao
ngày càng được ứng dụng phổ biến trong sinh hoạt, trong sản xuất công nghiệp và trong giáo dục.
Điều này đã làm thay đổi lớn nhu cầu học tập (NCHT) của người học cả về nội dung chuyên môn,
phương pháp, lẫn hình thức học tập. Do đó, bên cạnh những yếu tố cơ bản của QTDH cần được
thay đổi, thì người dạy với vai trò là chủ thể của quá trình này cũng cần phải nâng cao năng lực dạy
học đáp ứng NCHT đa dạng của người học. Giáo dục Kĩ thuật là lĩnh vực có kiến thức gắn liền với
công nghệ và tác động qua lại trực tiếp với công nghệ, nên NCHT của người học có những thay
đổi rất nhanh và đa dạng. Vì vậy, GVKT không những giỏi về Chuyên môn Kĩ thuật, Nghiệp vụ
SPKT, mà còn là chuyên gia trong lĩnh vực Công nghệ, ứng dụng Công nghệ trong dạy học và Kĩ
năng thực hành nghề. Tuy nhiên, thực tế dạy học hiện nay cho thấy, phần lớn các chương trình đào
tạo GVKT chủ yếu trang bị kiến thức, kĩ năng kĩ thuật và nghiệp vụ sư phạm, mà chưa chú trọng
đến kiến thức Công nghệ, Kĩ năng sử dụng Công nghệ trong dạy học và Kĩ năng thực hành nghề.
Do đó, đa số GVKT ở nước ta hiện nay gặp nhiều khó khăn đối với việc ứng dụng Công nghệ mới
trong dạy học và tổ chức dạy học Thực hành kĩ năng nghề. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả học tập của người học. Vì vậy, việc nghiên cứu tích hợp kiến thức Công nghệ và Thực hành Kĩ
Ngày nhận bài: 12/2/2017. Ngày nhận đăng: 20/4/2017.
Liên hệ: Bùi Văn Hồng, e-mail: bvhonglg@yahoo.com

91

Bùi Văn Hồng

năng nghề trong chương trình đào tạo GVKT tại trường ĐHSPKT TP. HCM là cần thiết trong giai
đoạn hiện nay ở nước ta.
Tại một số nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như Mỹ, Đức, Úc, Phần Lan việc
tích hợp kiến thức công nghệ vào chương trình đào tạo và huấn luyện GVKT là rất triệt để và hiệu
quả. Các kiến thức kĩ thuật có tính ứng dụng đều được mô tả thông qua các sản phẩm Công nghệ
hoặc được mô phỏng quy trình công nghệ sản suất bằng các phần mền máy tính chuyên ngành.
Phần lớn các kiến thức và kĩ năng sư phạm đều được triển khai dưới sự hỗ trợ của các thiết bị công
nghệ cao, kết hợp với mạng internet hoặc phần mềm dạy học. Trong hầu hết các buổi học, việc
tương tác giữa người học với người học, và giữa người học với người dạy luôn có sự kết hợp giữa
tương tác giác mặt với tương tác không giáp mặt thông qua môi trường mạng internet [1, 2, 3]. Ở
nước ta trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ứng dụng Công nghệ trong dạy học đã được
phát triển rất nhanh. Nhiều công trình nghiên cứu và sản phẩm ứng dụng Công nghệ dạy học đã
góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. Năm 2013, Bùi Văn Hồng
và Nguyễn Thị Lưỡng đã nghiên cứu phát triển phương tiện dạy học (PTHD) môn Điện tử cơ bản
theo hướng tích hợp giữa PTDH vật lí với PTDH ảo dựa trên mô hình tích hợp TPACK [4]. Kết
quả cho thấy, PTDH tích hợp có vai trò như một giảng viên trợ giảng, vừa làm nhiệm vụ truyền
tải và cung cấp nội dung học tập, vừa làm nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên trong học tập. Ngoài
ra, PTDH tích hợp còn có vai trò hỗ trợ và định hướng giảng viên trong việc sử dụng linh hoạt
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc tích
hợp Công nghệ trong PTDH, chưa đề cập đến việc tích hợp Công nghệ đối với các yếu tố còn lại
của quá trình dạy học (QTDH). Về vấn đề tích hợp kiến thức Công nghệ vào chương trình đào tạo
GVKT, Bùi Văn Hồng (2013) đã đề xuất quy trình và giải pháp cho việc tích hợp này. Theo tác giả,
để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học, kiến thức Công nghệ được tích hợp vào trong
tất cả các yếu tố của QTDH. Từ việc điều chỉnh mục tiêu dạy học theo hướng tích hợp đến nội
dung dạy học, PPDH, phương tiện dạy học và kiểm tra đánh giá. Giải pháp để thực hiện quy trình
tích hợp này là các cơ sở đào tạo cần phải hiện đại hóa cơ sở hạ tầng mạng và thiết bị công nghệ,
tăng tính chủ động của giảng viên trong QTDH [5]. Kết quả nghiên cứu này giúp giảng viên có
thêm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng Công nghệ trong QTDH, linh hoạt trong sử dụng PPDH
và rèn luyện ứng dụng Cộng nghệ trong dạy học cho sinh viên. Tuy nhiên, quy trình và giải pháp
được tác giả đề xuất trong nghiên cứu này chỉ là định hướng về lí luận, chưa có những vận dụng
cụ thể vào trong quá trình dạy học. Năm 2016, trên cơ sở đánh giá những thành công của trường
ĐHSPKT TP. HCM về việc ứng dụng Blended Learning trong phát triển các lớp dạy học số, kết
hợp với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ IoT (Internet of Things), Bùi Văn Hồng cho rằng,
việc ứng dụng công nghệ IoT để phát triển mô hình dạy học số tại trường ĐHSPKT TP. HCM là
phù hợp với bối cảnh hiện nay, nhằm tạo ra sự đa dạng về loại hình đào tạo, linh hoạt về phương
pháp và hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá, qua đó, đáp ứng tốt nhu cầu học tập đa dạng của
sinh viên [6]. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ IoT trong dạy học là một vấn đề mới hiện nay. Nên
trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ mới phân tích xu hướng phát triển Công nghệ và đề xuất
định hướng mở rộng mô hình dạy học số ứng dụng công nghệ IoT, mà chưa đề xuất hay minh họa
những ứng dụng cụ thể.
Với mục đích đề cấu trúc chương trình và biện pháp thực hiện việc tích hợp kiến thức Công
nghệ và Thực hành Kĩ năng nghề trong chương trình đào tạo GVKT tại trường ĐHSPKT TP. HCM,
bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về mô hình TPACK, các yếu tố năng lực tích hợp trong
chương trình đào tạo và biện pháp thực hiện.

92

Tích hợp kiến thức công nghệ và thực hành kĩ năng nghề trong đào tạo giáo viên kĩ thuật tại trường...

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

Để đảm báo tính khách quan và đúng đắn của kết quả nghiên cứu, bài viết sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: bài viết tiến hành phân tích các thành tố bên trong mô
hình TPACK và mối quan hệ giữa chúng để xác định các năng lực thành phần và năng lực chung
cần thiết của giáo viên. Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích sự tác động của công nghệ đến sự
thay đổi NCHT của người học cả về phương pháp, hình thức và mức độ nội dung học tập. Từ đó,
bài viết các định mối quan hệ giữa các thành phần năng lực đối với GVKT làm cơ sở cho việc đề
xuất cấu trúc khung chương trình đào tạo và các giải pháp thực hiện chương trình đào tạo GVKT
tại trường ĐHSPKT TP. HCM theo mô hình TPACK.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành trao đổi trực tiếp với các giảng viên và nhà khoa
học về các thành phần năng lực, nội dung (các học phần kiến thức, kĩ năng) và thời lượng của
chương trình đào tạo để lựa chọn và điều chỉnh cấu trúc khung chương trình đào tạo phù hợp với
định hướng tích hợp.
- Phương pháp chuyên gia: kết quả nghiên cứu được gửi đến các giáo viên, nhà khoa học có
kinh nghiệm trong lĩnh vực Giáo dục Kĩ thuật để đánh giá tính khả thi khung chương trình và giải
pháp thực hiện.

2.2.

Mô hình TPACK của Matthew J. Koehler

TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge) đã được Mishra & Koehler
(2006) phát triển và có cấu trúc như minh họa ở hình 1 [7]. Mô hình này là sự tích hợp có tính chất
phức tạp của ba loại hình kiến thức khác nhau, bao bồm: kiến thức về nội dung (CK), kiến thức về
sư phạm (PK) và kiến thức về công nghệ (TK). Do đó, TPACK có thể được hiểu như sau:
TPACK là sự tích hợp kiến thức nội dung, sư phạm và công nghệ. Sự tích hợp này nhằm nói
đến khả năng của giáo viên về chuyên môn, sư phạm và công nghệ trong quá trình dạy học.
Từ cấu trúc của mô hình TPACK ở hình 1 cho thấy, việc tích hợp ba loại kiến thức cơ bản
đứng độc lập nhau làm xuất hiện các loại kiến thức mới nằm trong các vùng giao nhau. Trong đó:
(1) Tại vùng giao nhau giữa kiến thức sư phạm (PK) với kiến thức nội dung chuyên môn
(CK), kiến thức nội dung sư phạm (PCK) được hình thành. Đây chính là ý tưởng về kiến thức sư
phạm được sử dụng vào việc dạy học một nội dung chuyên môn cụ thể.
(2) Tại vùng giao nhau giữa kiến thức công nghệ (TK) với kiến thức nội dung chuyên môn
(CK), kiến thức nội dung công nghệ (TCK) được hình thành. Đây là kiến thức về mối quan hệ giữa
nội dung và công nghệ. Tức là những kiến thức công nghệ được sử dụng vào việc dạy học một nội
dung chuyên môn cụ thể.
(3) Tại vùng giao nhau giữa kiến thức công nghệ (TK) với kiến thức sự phạm (PK), kiến
thức sư phạm công nghệ được hình thành (TPK), trong đó nhấn mạnh sự tồn tại, thành phần và khả
năng của các thiết bị công nghệ mới được sử dụng trong dạy học. Hay nói cách khác, đây chính là
kiến thức sư phạm trong việc sử dụng công nghệ mới vào quá trình dạy học.
(4) Cuối cùng, tại vùng giao nhau của ba loại hình kiến thức trên đã hình thành kiến thức
nội dung công nghệ sư phạm (TPACK). Kết quả này là sự tích hợp năng lực của giáo viên trong
QTDH. Thực chất của sự tích hợp này là nhấn mạnh đến khả năng hiểu biết và điều chỉnh mối
quan hệ giữa ba thành phần kiến thức đó của giáo viên. Hay nói cách khác, để dạy học hiệu quả
một chủ đề nào đó, đòi hỏi năng lực của giáo viên phải nằm trong vùng giao thoa giữa nội dung
93

Bùi Văn Hồng

chuyên môn, sư phạm và công nghệ.

Hình 1. Cấu trúc của mô hình TPACK [7]

2.3.

Nhu cầu học tập của người học dưới tác động của Công nghệ

NCHT của người học là nhu cầu về nội dung, cách thức, địa điểm, không gian và thời gian
học tập của một người học hoặc một nhóm người học [5].
Trong dạy học Kĩ thuật, khi mục tiêu dạy học đã được xác định, nội dung học tập cần thiết
của từng khóa học (môn học) đã được lựa chọn phù hợp, người học có những nhu cầu khác nhau
về cách thức, phương pháp, thời gian và địa điểm học tập tùy thuộc vào điều kiện và phong cách
học tập của mỗi cá nhân. Dưới sự tác động trực tiếp và sâu sắc của các thiết bị công nghệ như: máy
tính, điện thoại di động thông minh (Smart phone), phần mềm hỗ trợ dạy học, các trang mạng kết
nối cộng động ảo (Facebooke, Twitter, YouTube, . . . ), đặc biệt là sự ra đời của công nghệ IoT đã
làm thay đổi NCHT của người học như: Từ học tập thông qua ghi nhớ, thành học tập thông qua kết
hợp hiểu biết nhiều nội dung mới và thực hành thực tế; Từ học tập chính khóa trên lớp, thành học
tập kết hợp giữa học trên lớp, học cá nhân, học cùng với gia đình, học cùng với bạn bè, học qua
mạng internet (tham gia các lớp học số), ...
Như vậy, sự phát triển của Công nghệ đã tác động trực tiếp đến NCHT của người học, đặc
biệt là nhu cầu về phương pháp, hình thức và mức độ nội dung học tập.

2.4.

Tích hợp kiến thức Công nghệ và Thực hành Kĩ năng nghề trong chương
trình đào tạo GVKT tại trường ĐHSPKT TP. HCM

2.4.1. Mối quan hệ giữa các thành phần năng lực trong chương trình đào tạo GVKT
Với mục tiêu đào tạo GVKT giỏi về Chuyên môn Kĩ thuật, Kĩ năng thực hành nghề và
PPDH chuyên ngành, chương trình đào tạo GVKT tại trường ĐHSPKT TP. HCM được phát triển
dựa trên sự tích hợp của ba khối kiến thức và năng trên (hình 2).
94

Tích hợp kiến thức công nghệ và thực hành kĩ năng nghề trong đào tạo giáo viên kĩ thuật tại trường...

Hình 2. Mối quan hệ giữa các yếu tố năng lực trong chương trình đào tạo GVKT
Trong đó:
(1) Mục tiêu đào tạo: là đào tạo GVKT giỏi về Chuyên môn Kĩ thuật, Kĩ năng thực hành
nghề, nghiệp vụ SPKT và Kĩ năng vận dụng Công nghệ vào dạy học. Do đó, các thành phần năng
lực được tích hợp trong mục tiêu đào tạo cả các chương trình SPKT như sau:
- Năng lực về Chuyên môn Kĩ thuật.
- Năng lực về Thực hành Kĩ năng nghề.
- Năng lực về Nghiệp vụ SPKT.
- Năng lực về ứng dụng Công nghệ trong dạy học.
(2) Chuyên môn Kĩ thuật: là khối kiến thức, kĩ năng giúp hình thành và phát triển năng lực
Chuyên môn Kĩ thuật cho sinh viên để trở thành kĩ sư trong tương lai. Ví dụ: kĩ sư Điện – Điện tư,
kĩ sư Công nghệ Ô tô, kĩ sư Công nghệ chế tạo máy,. . .
(3) Thực hành Kĩ năng nghề: là những nội dung thực hành để phát triển tay nghề cho sinh
viên phù hợp với từng vị trí nghề nghiệp của GVKT theo tiêu chuẩn Kĩ năng nghề quốc gia. Ví dụ:
Nghề Điện công nghiệp, Nghề Lắp đặt điện và điều khiển công nghiệp, Nghề Cắt gọt kim loại,. . .
(4) Sư phạm Kĩ thuật: là khối kiến thức, kĩ năng giúp hình thành và phát triển năng lực về
Nghiệp vụ SPKT cho sinh viên để trở GVKT trong tương lai.
(5) Bối cảnh phát triển Công nghệ: là những thành tựu của Công nghệ tác động đến QTDH
và ứng dụng phù hợp trong đổi mới PPDH.
Theo mối quan hệ ở hình 2, năng lực dạy học của GVKT là sự tích hợp các năng lực Chuyên
môn Kĩ thuật, Kĩ năng thực hành nghề, nghiệp vụ SPKT và Kĩ năng vận dụng Công nghệ vào dạy
học. Năng lực này được hình thành và phát triển thông qua QTDH trong bối cảnh Công nghệ phát
triển.

2.4.2. Cấu trúc khung chương trình đào tạo
Các thành phần năng lực của chương trình đào tạo GVKT được phân bố như bảng 1.
95

Tài liệu cùng danh mục Giáo dục học

Basic thoughts concerning teaching research – situation, perspectives and limits

Trong bài viết này, tác giả thảo luận vấn đề sau: Làm sao để mô tả hoặc tưởng tượng (mô hình), để giải thích hoặc lí giải (lí thuyết) và để định trước hay dự đoán (dự báo) “các quá trình giáo dục Hóa học”, trong quá trình dạy học và giáo dục vốn phức tạp. Bài báo này dựa trên bản thảo của bài giảng của tác giả được tiến hành tại Khoa Hóa học, Đại học Sư phạm Hà Nội.


“Hợp đồng dạy học” – Một công cụ để nghiên cứu những sai lầm của học sinh

Bài viết này giới thiệu một khái niệm công cụ của lý thuyết tình huống, khái niệm hợp đồng dạy học. Với vai trò một công cụ, hợp đồng dạy học được dùng để nghiên cứu các sai lầm của học sinh mà những sai lầm này là hệ quả của những quan hệ ngầm ẩn giữa các thành phần của hệ thống giảng dạy: giáo viên – tri thức – môi trường – học sinh.


Mô hình Erp cho các trường Đại học

Bài viết "Mô hình Erp cho các trường Đại học" đề cập đến xu hướng ứng dụng mô hình ERP (Enterprise Resource Planning) trong môi trường giáo dục đại học thông qua phân tích tính cần thiết, những thuận lợi, thách thức khi triển khai mô hình ERP cho các trường Đại học. Đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giúp các trường Đại học có thể xem xét và ứng dụng mô hình ERP trong tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục trong xã hội thông tin ngày nay.


Module TH 4: Môi trường dạy học lớp ghép - Mông Ký Slay

Module Tiểu học 4: Môi trường dạy học lớp ghép giúp học viên hiểu được những đặc trưng cơ bản của "lớp ghép" so với "lớp đơn"; hiểu được môi trường dạy lớp ghép và mô tả được môi trường vật chất trong dạy học lớp ghép. Mời bạn đọc cùng tham khảo.


HƯỚNG DẪN CÁCH TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

Lựa chọn câu hỏi đúng sai. Mỗi câu hỏi đúng sai có hai phần. Phần thứ nhất là một câu hoặc một mệnh đề, trong đó có nội dung thông tin cần được khẳng định hoặc phủ định. Phần thứ hai là hai từ khẳng định hoặc phủ định . Nhiệm vụ của người làm trắc nghiệm là đọc lĩ câu hỏi, sau đó tích dấu x sát chữ đúng hoặc sai


Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (Lớp 2 - Tập 2): Phần 2

(NB) Phần 2 của "Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (Lớp 2 - Tập 2) hướng dẫn dạy học một số chủ đề như: Vì sao cá không biết nói, sông Hương, bạn biết gì về cây ăn quả, làm gì để chăm sóc cây,.... Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.


Nghiên cứu phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi tại thành phố Bắc Ninh – tỉnh Bắc Ninh: thực trạng và giải pháp

Trong những năm gần đây, thành phố (TP) Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh) đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non (PCGDMN) cho trẻ 5 tuổi sớm nhất tỉnh. Tuy nhiên, để có cái nhìn thật chính xác và có hệ thống về phổ cập giáo dục (PCGD) ở Bắc Ninh thì chưa có tài liệu nào công bố. Do vậy, bài viết này đi sâu khảo sát thực trạng công tác PCGDMN nói chung, công tác PCGD cho trẻ 5 tuổi nói riêng ở TP Bắc Ninh, từ đó chỉ ra những hạn chế và đề xuất một số giải pháp khắc phục.


Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá học phần đất nước học Đức

Bài viết trình bày những đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá học phần đất nước học Đức và hiệu quả của nó đối với việc dạy và học môn học này. Dựa trên kết quả khảo sát sinh viên, tác giả đưa ra một số giải pháp trong phần kết luận nhằm tăng cường hơn nữa chất lượng giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên.


Young scientific intellectuals in Vietnam at present: challenges and prospects

The paper presents formation and development of the young scientific intellectual circle in the present context. A lot of research and higher-educational institutions are now encountering a gap of intellectual generations. The formation of the young scientific intellectual circle has been closely attached with a lot of opportunities and challenges as well.


Cách ghi học bạ Tiểu học theo Thông tư 30

Tài liệu Cách ghi học bạ Tiểu học theo Thông tư 30 được thực hiện nhằm giúp cho các thầy cô giáo và những bạn quan tâm tới lĩnh vực này có định hướng ghi nhận xét các môn học trong học bạ của học sinh Tiểu học.


Tài liệu mới download

Bài thuyết trình Global warming
  • 12/12/2016
  • 59.099
  • 812
Các chỉ số cận lâm sàng
  • 20/06/2012
  • 32.727
  • 111

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu