Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Thương lượng hội thoại - một kĩ năng giao tiếp quan trọng có thể tích hợp rèn luyện cho học sinh THCS qua môn Ngữ văn

Hội thoại là một phần tất yếu trong giao tiếp. Muốn giao tiếp thành công cần có kĩ năng thương lượng hội thoại. Học sinh THCS đang hoàn thiện về kĩ năng giao tiếp nên rất cần tiếp cận với vấn đề thương lượng hội thoại. Bài viết này đề cập đến cơ sở lí luận về thương lượng hội thoại và định hướng tích hợp rèn luyện cho HS nội dung này qua phần Đọc hiểu trong môn Ngữ văn ở THCS.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2017, Vol. 62, Iss. 4, pp. 33-42
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

DOI: 10.18173/2354-1075.2017-0055

THƯƠNG LƯỢNG HỘI THOẠI – MỘT KĨ NĂNG GIAO TIẾP QUAN TRỌNG
CÓ THỂ TÍCH HỢP RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH THCS QUA MÔN NGỮ VĂN
Phan Thị Hồng Xuân
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Thương lượng là một yếu tố rất quan trọng trong hội thoại. Bước vào một cuộc hội
thoại là bước vào cuộc thương lượng. Hội thoại là một phần tất yếu trong giao tiếp. Muốn
giao tiếp thành công cần có kĩ năng thương lượng hội thoại. Học sinh THCS đang hoàn
thiện về kĩ năng giao tiếp nên rất cần tiếp cận với vấn đề thương lượng hội thoại. Bài viết
này đề cập đến cơ sở lí luận về thương lượng hội thoại và định hướng tích hợp rèn luyện
cho HS nội dung này qua phần Đọc hiểu trong môn Ngữ văn ở THCS.
Từ khóa: Hội thoại, thương lượng, kĩ năng, tích hợp, đọc hiểu.

1.

Mở đầu

Thương lượng là một yếu tố rất quan trọng trong hội thoại. Bước vào một cuộc hội thoại
là bước vào cuộc thương lượng. Sự thành công hay thất bại của cuộc thoại phụ thuộc vào kĩ năng
thương lượng hội thoại. Không thiếu những cuộc thoại bắt đầu từ những chuyện rất nhỏ nhưng kết
thúc là một sự gây gổ, xung đột, để lại những hậu quả khôn lường. Tất cả chỉ là do các bên không
có kĩ năng thương lượng hội thoại. Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau vấn đề thương lượng hội
thoại chưa được nghiên cứu nhiều. Trong các nhà Ngôn ngữ học có nhiều thành tựu nghiên cứu về
Ngữ dụng học ở Việt Nam như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim
Liên, Đỗ Việt Hùng. . . , tác giả Đỗ Hữu Châu là người quan tâm tới thương lượng nhiều hơn cả.
Trong Đại cương ngôn ngữ học tập hai - Ngữ dụng học [4], tác giả đã đề cập tới đối tượng thương
lượng, phương thức thương lượng. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ [7] đề cập
tới thương lượng và mối quan hệ với sự trao đáp trong hội thoại. Tác giả Chu Thanh Tâm đã đề cập
đến thương lượng hội thoại khi dẫn nhập đề tài diễn ngôn [5]. Trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành, có một số bài báo đề cập tới hội thoại [11-13]. Tuy nhiên, các bài báo này chỉ đề cập tới
vấn đề dạy học hội thoại nói chung chứ không đề cập tới thương lượng hội thoại. Năm 2010, tác
giả Đặng Thị Hảo Tâm đã phân tích vai trò của thương lượng nội dung hội thoại trong việc phản
ánh xung đột về quan niệm nghệ thuật thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của đời sống
nhân dân. Mục đích của bài báo là đưa ra những kiến giải khoa học về giá trị của đoạn trích và làm
rõ hơn cho việc tiếp cận văn bản theo hướng tích hợp ngôn ngữ - văn học [2].
Ở trường phổ thông, năng lực giao tiếp là năng lực cốt yếu cần hình thành cho học sinh
(HS) ở tất cả các cấp học. Cấp học Trung học cơ sở (THCS) cũng không nằm ngoài yêu cầu đó.
HS THCS đang ở tuổi hoàn thiện kĩ năng giao tiếp nên rất cần hình thành và phát triển kĩ năng
Ngày nhận bài: 10/2/2017. Ngày nhận đăng: 3/5/2017.
Liên hệ: Phan Thị Hồng Xuân, e-mail: phanhongxuan@gmail.com

33

Phan Thị Hồng Xuân

thương lượng hội thoại. Trong bài báo này, chúng tôi muốn nghiên cứu vấn đề thương lượng hội
thoại và đề xuất các định hướng tích hợp nội dung này với phần Đọc hiểu trong môn Ngữ văn để
từng bước hình thành và nâng cao kĩ năng thương lượng hội thoại cho học sinh THCS.

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lí luận của vấn đề thương lượng hội thoại

Thương lượng là gì? Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “Thương lượng là
trao đổi, bàn bạc với nhau nhằm đi đến thỏa thuận, giải quyết một vấn đề nào đó (thường có liên
quan tới quyền lợi của các bên). Ví dụ: Thương lượng về giá cả; Giải quyết bằng thương lượng” [1,
tr. 2265].
Thương lượng hội thoại là gì? Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm đã đưa ra định nghĩa: “Thương
lượng hội thoại là quá trình các nhân vật giao tiếp sử dụng lời trao và lời đáp của mình để đạt được
sự thỏa thuận về hình thức hội thoại, nội dung hội thoại hoặc điều chỉnh xung đột trong suốt diễn
tiến của cuộc thoại nhằm đảm bảo thành công cho cuộc giao tiếp” [2, tr. 25].
Tuy nhiên, trong đa số các cuộc thoại, vận động thương lượng không chỉ sử dụng lời nói
mà còn kèm theo những yếu tố khác như ngữ điệu, ánh mắt, nét mặt, ngôn ngữ cơ thể. . . . Vì vậy,
để tiện nghiên cứu, chúng tôi tạm thời đưa ra một cách hiểu về thương lượng hội thoại như sau:
Thương lượng hội thoại là vận động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ, yếu tố kèm lời và yếu tố phi
lời do các nhân vật tham gia hội thoại tiến hành nhằm đạt được sự thỏa thuận về cách thức và nội
dung của cuộc thoại để đảm bảo cho cuộc thoại thành công.
Kĩ năng là gì? Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh Môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và
Đào tạo đưa ra cách hiểu về kĩ năng như sau: “Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những
cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó
trong một môi trường quen thuộc. Kĩ năng theo nghĩa rộng bao hàm những kiến thức, những hiểu
biết và kinh nghiệm giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi” [3, tr. 27].
Kĩ năng thương lượng hội thoại là gì? Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu: Kĩ năng
thương lượng hội thoại là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, hiểu
biết và trải nghiệm để thương lượng thành công trong cuộc thoại.
Trong cuộc thoại, các nhân vật hội thoại có thể thương lượng về những phương diện (tác giả
Đỗ Hữu Châu thì gọi là những đối tượng) sau:
1) Hình thức của hội thoại. Muốn tiến hành hội thoại, đầu tiên các nhân vật phải thỏa thuận
với nhau về ngôn ngữ được dùng, về phong cách, giọng điệu trong hội thoại (như trang trọng, thân
mật hay bỗ bã...). Cuộc thoại giữa chị Dậu và cai lệ trong tác phẩm Tắt đèn là một ví dụ. Trong hội
thoại này, chị Dậu đã ngầm thương lượng với cai lệ sử dụng ngôn ngữ có văn hóa (xưng là “cháu”,
gọi cai lệ là “ông”). Tuy nhiên, cai lệ vẫn hành xử theo lối côn đồ. Vì vậy, chị Dậu cũng đã chuyển
đổi cách xưng hô của mình (xưng là “bà”, gọi cai lệ là “mày”) và túm cổ hắn ấn dúi ra cửa. Chị
Dậu đã xử sự theo phương châm “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.
2) Cấu trúc của hội thoại. Thương lượng về cấu trúc bao gồm thương lượng đoạn mở đầu,
kết thúc, sự luân phiên lượt lời trong cuộc thoại. Các nhân vật hội thoại sẽ thương lượng với nhau
ai sẽ là người mở đầu cuộc thoại. Đối với cuộc giao tiếp có tính chất quan phương thì người mở đầu
cuộc thoại sẽ được định sẵn. Ví dụ, trong giờ học thì giáo viên thường là người nói trước. Trong
giao tiếp đời thường, người nắm giữ đề tài cuộc thoại sẽ là người mở đầu. Kết thúc cuộc thoại cũng
cần phải thương lượng. Người nói lời cuối cùng khi mọi người thống nhất ý kiến và cuộc thoại
chấm dứt là người kết thúc cuộc thoại. Còn về lượt lời, nếu bình thường thì mỗi người sẽ bắt đầu
34

Thương lượng hội thoại – Một kĩ năng giao tiếp quan trọng có thể tích hợp rèn luyện cho học sinh...

lượt lời của mình khi lượt lời của người kia kết thúc. Tốt nhất là các lượt lời không nên dẫm đạp lên
nhau. Thời gian của mỗi lượt lời không nên quá chênh lệch nhau. Tuy nhiên, trong những trường
hợp đặc biệt như phỏng vấn, bác sĩ khám cho bệnh nhân, người thuyết trình thì lượt lời của họ sẽ
nhiều hơn và thời lượng của mỗi lượt lời sẽ dài hơn. Khi trong cuộc thoại có những lời trách là
“Sao nhiều lời thế!” hoặc “Sao người ta chưa nói đã chặn họng thế?” là đang có sự thương lượng
về lượt lời một cách công khai.
3) Thương lượng về lí lịch và vị thế giao tiếp của đối tác. Sự hiểu biết về đối phương ảnh
hưởng rất sâu sắc tới cuộc thoại. Chính vì thế, khi gặp nhau lần đầu, các nhân vật hội thoại thường
dò tìm lí lịch của nhau tức là xác định vị trí của mỗi người trên trục tung và trục hoành. Trục tung
là trục vị thế xã hội hay còn gọi là trục quyền uy. Vị thế xã hội do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp
mà có. Theo trục này thì những người giao tiếp ở mức độ cao thấp hoặc bình đẳng với nhau và khi
đã được xác định thì giữ nguyên, không thể qua thương lượng mà thay đổi. Vì vậy, trước khi nói
chuyện nếu được giới thiệu về đối tác thì sẽ rất thuận lợi cho các nhân vật hội thoại. Trục hoành là
trục khoảng cách hay còn gọi là trục thân cận. Trên trục này, các nhân vật hội thoại có thể gần gũi
mà cũng có thể xa cách. Trục này có thể qua thương lượng mà thay đổi.
Các nhân vật hội thoại còn thương lượng với nhau về vị thế giao tiếp: Ai là người chủ động
điều khiển cuộc thoại, ai là người bị chế ngự trong cuộc thoại đều phải qua thương lượng mà xác
lập và vị thế này có thể biến đổi qua diễn tiến cuộc thoại. Thường thì người nắm giữ đề tài, hiểu
biết vấn đề sẽ là người có vị thế giao tiếp trong cuộc thoại. Cũng có những cuộc thoại, lúc đầu A
nêu vấn đề, là người giữ vị thế điều khiển cuộc thoại nhưng sau đó B, một đối tác hiểu biết hơn về
đề tài này, sẽ là người điều khiển, chế ngự cuộc thoại.
4) Các yếu tố ngôn ngữ. Các nhân vật hội thoại phải thương lượng về ý nghĩa của từ ngữ
được dùng, về câu cú. Trong cuộc thoại, ý nghĩa của từ, của câu biến đổi và trong chừng mực nhất
định còn mang ý nghĩa do cuộc thoại đem lại. Bài ca dao sau đây là một minh chứng cho nhận
định trên.
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng,
Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng?
Trong bài ca dao trên, “tre non”, “đủ lá”, “đan sàng” trong cách hiểu của đôi trai gái đã chuyển
nghĩa mới: tre non: cô gái, đủ lá: đã đến tuổi cập kê, hẹn hò, đan sàng: tham gia vào chuyện tình
yêu đôi lứa, cụ thể là đáp lại tình yêu của chàng trai.
5) Nội dung cuộc thoại. Các nhân vật hội thoại phải thương lượng với nhau về đề tài cuộc
thoại: đó là mảng hiện thực được lựa chọn để đề cập đến trong cuộc thoại. Các cuộc hội thoại quan
phương không cần phải thương lượng về đề tài vì nó đã được xác định từ trước. Nhưng trong giao
tiếp thường ngày, có thể khi nói chuyện với nhau, người thích đề tài này, người thích đề tài khác,
lúc đó phải vận động thương lượng đề tài. Khi một vấn đề được các nhân vật hội thoại chấp nhận
thì mới thành đề tài của diễn ngôn, tức thành đề tài của cuộc hội thoại. Ví dụ trong câu ca dao:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
đề tài do “mận” đưa ra là đề tài tình yêu đã được “đào” chấp nhận và trở thành đề tài của cuộc giao
tiếp. Sau khi thương lượng về đề tài, các nhân vật hội thoại sẽ thương lượng về chủ đề cuộc thoại.
35

Phan Thị Hồng Xuân

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “chủ đề là chiều hướng phát triển của đề tài” [4, tr. 285]. Và hướng
triển khai này cũng thể hiện quan điểm, thái độ, sự đánh giá của nhân vật hội thoại với vấn đề được
đem ra trò chuyện, bàn luận.
Đoạn thoại sau đây là một ví dụ về sự thất bại khi thương lượng chủ đề trong hội thoại.
Chàng trai (CT): Dạ, con chào bố ạ.
Ông bố cô người yêu (ÔB): Ai đẻ ra anh mà anh gọi tôi là bố?
CT: Cháu mời bác uống nước ạ.
ÔB: Ơ! Cái anh này! Chén nhà tôi, nước nhà tôi mà anh lại mời tôi. Hay nhỉ!
CT: Cháu mời bác hút điếu thuốc cho thơm miệng ạ.
ÔB: Dễ không có thuốc của anh chắc miệng tôi hôi nhỉ?
CT: Dạ, thưa bác, lâu nay bác vẫn khỏe chứ ạ?
ÔB: Khỏe để làm gì, khỏe để đánh nhau với anh chắc?
Trong cuộc hội thoại này, chàng trai muốn phát triển cuộc thoại theo hướng thiết lập quan
hệ gia đình với bố cô người yêu. Còn ông bố thì ngược lại, muốn thể hiện sự không bằng lòng
về quan hệ giữa chàng trai và con gái ông. Vì vậy đề tài không phát triển được. Và mục đích của
chàng trai cũng không đạt được.
6) Thái độ của các nhân vật hội thoại: Đây là vấn đề các nhân vật rất cần thương lượng trong
cuộc thoại. Nhiều khi cuộc thoại có kết cục không thành công không phải vì vấn đề đặt ra cần giải
quyết mà chỉ do thái độ của mỗi bên. Lúc đó hoặc cuộc thoại không diễn tiến hoặc có diễn tiến thì
các bên không đạt được đích mong muốn. Những cách nói “Để khi nào anh bình tĩnh chúng ta sẽ
nói chuyện.” hoặc “Bình tĩnh nghe tôi nói đã nào!”. . . chính là một cách thương lượng công khai
về thái độ của các nhân vật tham gia hội thoại. “Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại.” là lời người xưa
khuyên chúng ta cần có thái độ bình tĩnh, tôn trọng lẫn nhau khi thương lượng.
Bên cạnh việc nghiên cứu các phương diện có thể thương lượng trong cuộc thoại, việc
nghiên cứu về các phương thức thương lượng cũng rất quan trọng. Các phương thức này bao gồm:
Thời gian thương lượng: Thương lượng có thể tiến hành ngay từ khi bắt đầu hội thoại. Đó
là thương lượng để đối tác chịu hội thoại với mình, thương lượng về ngôn ngữ, thái độ hội thoại và
chờ thời gian thích hợp để tung đề tài ra. Thương lượng diễn ra liên tục từ đầu đến cuối cuộc thoại
vì thế không thể xác định thời gian cố định cho thương lượng. Thương lượng vấn đề gì vào thời
gian nào hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhạy bén, khéo léo của nhân vật hội thoại. Và điều này quyết
định rất nhiều tới sự thành công của cuộc thương lượng
Thể thức thương lượng: Về nguyên tắc, có thể thương lượng trực tiếp nhưng kiểu thương
lượng này thô vụng, áp đặt nên thường thất bại, không thích hợp với hội thoại đời thường. Chính
vì vậy, đối với kiểu hội thoại này, người ta thường thương lượng ngầm, gián tiếp theo kiểu dò dẫm.
Thể thức hay dùng nhất là “quả bóng thăm dò” (trial balloon) và “thử và sai lầm” (trial and error).
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu “Người muốn đưa ra đề tài tung ra một đề ở lời, chờ xem phản ứng của
đối tác thế nào. Nếu đối tác không đồng ý thì thôi chuyển sang “Quả bóng thăm dò” khác” [4; tr.
288]. Trước đó, tác giả Chu Thanh Tâm cũng đã từng nói: “quá trình thương lượng trong pha dẫn
nhập là quá trình ném bóng thử nghiệm giữa các đề của lời của các nhân vật hội thoại” [5, tr. 72].
Khi thượng lượng người ta có thể dùng các yếu tố ngôn ngữ nhưng cũng có thể dùng các yếu
tố kèm lời hay yếu tố phi lời (ngữ điệu, ánh mắt, trang phục, xê dịch vị trí. . . ). Tuy nhiên, người ta
thường kết hợp các yếu tố này để thương lượng.
Có những trường hợp cuộc thương lượng cần đến một trọng tài. “Trọng tài có thể là người
thứ ba, có thể là cuốn sách, cuốn từ điển” [4, tr. 288-289]. Nếu trọng tài là người thứ ba thì người
đó phải được các đối tác tin cậy, phải hiểu rõ mục đích của các bên và phải có thiện ý để cuộc
36

Thương lượng hội thoại – Một kĩ năng giao tiếp quan trọng có thể tích hợp rèn luyện cho học sinh...

thương lượng thành công. Nếu là trọng tài là sách vở, từ điển thì trong đó phải lưu giữ các chuẩn
mực, chân lí để các bên soi vào khi thương lượng. Truyện Mồ côi xử kiện là một ví dụ (sẽ phân
tích ở phần sau của bài báo).
Kết cục của hội thoại. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu cuộc thoại có thể có các kết cục như sau:
Thỏa thuận là kết cục lí tưởng nhất trong đó hai phía hội thoại đạt được mục đích của mình
do tác động hài hòa, thuyết phục lẫn nhau.
Liên kết tự nguyện kém hơn, trong đó một phía phải chấp thuận điều kiện của phía bên kia.
Liên kết miễn cưỡng là liên kết có được do áp lực của một phía đối với phía bên kia và khi
đó sự thành công của cuộc thoại chỉ là ở bên ngoài. Trường hợp chị Dậu thương lượng với cai lệ là
một ví dụ. Chị Dậu vì “tức nước vỡ bờ” đã dùng sức mạnh cơ thể trấn áp cai lệ.
Một vấn đề nữa không thể bỏ qua khi nghiên cứu về thương lượng hội thoại, đó là các yếu
tố giúp thương lượng thành công.
Thứ nhất là khi thương lượng, các nhân vật hội thoại phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích
tối đa cho mỗi bên, nguyên tắc “win-win”, nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Bài thơ Thằng Bờm là
một ví dụ. Bờm là đại diện cho trí tuệ dân gian nên hiểu rõ sự trao đổi của Bờm và Phú Ông chỉ
diễn ra khi Bờm đồng ý đổi “quạt mo” lấy một thứ có giá trị tương đương là “nắm xôi”. Còn nếu
Bờm đồng ý đổi lấy “ba bò chín trâu”, “ao sâu cá mè”, “một bè gỗ lim”, “con chim đồi mồi” thì
cuộc trao đổi sẽ không bao giờ thành hiện thực.
Thứ hai là phải đảm bảo sự công bằng. Thương lượng theo lối chỉ có lợi cho một bên thì kết
cục sẽ không đạt được thỏa thuận. Nếu có liên kết thì chỉ là miễn cưỡng mà thôi. Câu chuyện Mồ
côi xử kiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 [6] là một điển hình. Tên chủ nhà hàng bắt bác nông
dân ngồi nhờ trong cửa hàng phải trả tiền vì đã ngửi mùi thức ăn. Cậu bé mồ côi thông minh đồng
ý để hắn thu tiền, còn bác nông dân ngửi thức ăn phải trả tiền. Tuy nhiên, bác nông dân cũng phải
được đảm bảo quyền lợi nên bác cũng chỉ phải trả tên chủ quán âm thanh của đồng tiền. Như vậy
một bên ngửi thức ăn, một bên nghe tiếng của đồng tiền. Thế là công bằng.
Thứ ba là phải khéo léo, lịch sự. Thương lượng là một khoa học đồng thời cũng là một nghệ
thuật. Trong thương lượng cần thể hiện sự tinh tế, khéo léo, nhạy bén, linh hoạt. Tục ngữ Việt Nam
đã có những câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” hay “Kim vàng
ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ mắng nhau nặng lời”. . . để nói về điều này. Cuộc thương lượng
trên cơ sở quan tâm đến tình cảm và thể diện của đối tác sẽ rất dễ thành công. Khéo léo thường
đi kèm với lịch sự. Nếu nói năng không lịch sự sẽ gây phản cảm cho đối tác và không được đối
tác cộng tác, hội thoại sẽ không tiếp diễn, và nếu có tiếp diễn thì cũng không đạt được mục đích.
Không thiếu gì cuộc hội thoại mà đối tác từ chối theo kiểu: “Nếu anh nói giọng đó thì tôi không
nói với anh nữa.”
Thứ tư là phải sắc sảo trong lập luận. Đây là một yếu tố cũng quyết định đến kết quả của
thương lượng hội thoại. Nhiều cuộc thoại nhờ lập luận sắc sảo mà nhân vật hội thoại thuyết phục
thành công đối tác, để đối tác thỏa thuận hay tự nguyện liên kết. Ví dụ truyện Em bé thông minh
(sẽ phân tích ở phần 3 của bài báo).
Thứ năm là phải hiểu rõ mình và đối tác: Hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu, mục đích thương
lượng của mỗi bên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp cũng đã từng nói: “Muốn đạt được mục
đích của mình trong cuộc thương lượng. . . các tham thoại cần nắm được ý định của đối phương
qua phát ngôn của họ hơn là ý nghĩa của từng từ ngữ trong lời phát ngôn” [7, tr. 86]. Biết mình,
biết ta thì trăm trận trăm thắng.
Thứ sáu là phải có kĩ năng tư duy phản biện. Kĩ năng này giúp con người bình tĩnh khi đối
tác có quan điểm khác mình, biết đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn sự việc dưới góc nhìn
của họ và quan trọng nhất là biết tách vấn đề khỏi sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan của mỗi người
37

Tài liệu cùng danh mục Ngôn ngữ học

Ebook Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản: Phần 1 - Diệp Quang Ban

Cuốn sách "Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản" được biên soạn nhằm mục đích giới thiệu những vấn đề và phương pháp tiếp cận đối với các đề mục liên quan đến giao tiếp, phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn, và cấu tạo của văn bản ở mức độ cần cho việc nghiên cứu và dạy học ngữ văn. Phần 1 cuốn sách trình bày nội dung của 7 chương đầu tiên (từ chương 1 đến chương 7) bao gồm: Giao tiếp và mô hình giao tiếp, truyện học và ngữ pháp truyện, phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn, văn bản và đặc trưng của văn bản, ngôn ngữ nói và viết, mạng mạch. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Cảm thức nhân loại trong du ký Việt Nam đương đại

Bài báo bước đầu nhận diện thế giới nghệ thuật được tạo lập từ cảm thức nhân loại với các biểu hiện đặc thù như: khát vọng lên đường, nỗ lực hội nhập và chinh phục những thách thức văn hóa, ý thức “đi xa để trở về”. Tất cả hòa quyện và được thúc đẩy bởi sự pha trộn của phong cách ngôn ngữ tương ứng, kết cấu mở và nghệ thuật trần thuật tự nhiên đã làm cho du ký đương đại càng trở nên hấp dẫn với người đọc.


Ebook Dịch thuật Văn bản khoa học: Phần 1 - Lưu Trọng Tuấn

Ebook Dịch thuật Văn bản khoa học do Lưu Trọng Tuấn biên soạn cung cấp cho các bạn các thông tin về lí luận, phương pháp và các nguyên lí cùng các quy tắc có tính thao tác dịch thuật ngữ khoa học Anh - Việt. Các nguyên lí, nguyên tắc này được xây dựng theo cách nhìn của ngôn ngữ học hiên đại. Dưới đây là phần 1 của cuốn sách, mời các bạn tham khảo.


Bạn biết gì về các nhóm ngôn ngữ chính?

‘Quy tắc tương đồng’ Nghiên cứu cũng đưa ra những đánh giá trái ngược với ý kiến trước đây cho rằng não bộ của con người tạo ra quy định toàn cầu cho ngôn ngữ. Sự thật thế nào? “Dường như những yếu tố địa phương và phát triển văn hóa quan trọng hơn những áp lực nhận thức trong tâm trí con người (trong việc hình thành biến thể ngôn ngữ “Nhận định (trước đây) cho rằng con người đóng vai trò quan trọng với cấu trúc bẩm sinh của trí tuệ trong việc hình thành biến thể ngôn...


Ebook Tìm về cội nguồn chữ Hán gồm nhiều từ đã gia nhập vào kho tiếng Việt: Phần 2 - Lý Lạc Nghị

Ebook "Tìm về cội nguồn chữ Hán gồm nhiều từ đã gia nhập vào kho tiếng Việt: Phần 2" nối tiếp phần 1 trình bày bảng tiếng Việt gốc Hán, bảng tra theo phiên âm Bắc Kinh, bảng tra chữ theo nét, niên biểu văn tự và niên biểu Hán Việt,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết phần 2 của cuốn sách này.  


1ngôn ngữ và đời sống thực tiễn qua một vài cấu trúc định danh mở rộng

Cấu trúc định danh mở rộng - về mặt cơ chế ngôn ngữ - là một loại đơn vị từ vựng ghép. Quá trình hình thành của nó bao giờ cũng lấy sự phản ánh những thuộc tính mới của sự vật và hiện tượng đang biến động của thế giới khách quan thông qua nhận thức chủ quan của con người làm tiên đề. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.


Độ tin cậy của DTC trong nghiên cứu dụng học

Mục tiêu của nghiên cứu "Độ tin cậy của DTC trong nghiên cứu dụng học" là nhằm xác định những sai lệch và những khó khăn của người Việt Nam học tiếng Anh trong việc hình thành lời yêu cầu trong những tình huống được nghiên cứu. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.


Nhạc điệu trong thơ ca Việt

Từ chỗ đứng của ngôn ngữ học trong mối liên hệ với văn học qua môi giới là những thi liệu cụ thế, bài viết muốn tiếp cận với khái niệm nhạc điệu trong thơ ca một cách hạn hẹp hơn và sát thực hơn, cố gắng phát hiện và phân tích những giá trị mỹ cảm từ chính chất liệu của âm thanh tiếng nói được thể hiện qua những tác phẩm thi ca cụ thể.


Đôi nét về đặc điểm tiêu đề bài học trong giáo trình khẩu ngữ tiếng Hán

Thông qua việc phân tích đặc điểm tiêu để của một số bài học, bài viết làm rõ vai trò của tiêu đề bài học, trước hết là bài học khẩu ngữ tiếng Hán trong trường chuyên ngữ đối với việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ cho sinh viên.


Chuyển mã giữa tiếng Việt và tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở nơi làm việc

Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào mã chuyển đổi giữa tiếng Việt và tiếng Anh như một thiết bị thông tin liên lạc trong các cuộc hội thoại tại nơi làm việc. Nghiên cứu được tiến hành bằng các phương tiện quan sát, phỏng vấn, ghi âm và các câu hỏi trên 200 đại biểu đến từ 20 công ty, văn phòng và nơi làm việc ở Huế, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.


Tài liệu mới download

Cây son thiên sứ - Tập 9
  • 24/04/2013
  • 85.652
  • 977
tài liệu về diode
  • 05/01/2011
  • 81.055
  • 997

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Irish English Part 3
  • 29/08/2011
  • 36.014
  • 900
Irish English Part 7
  • 29/08/2011
  • 23.663
  • 969

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu