Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Luật tục Raglai về hôn nhân và gia đình

Luật tục Raglai bao quát hầu hết các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân và gia đình của cộng đồng nên có sức sống mãnh liệt trong đời sống tộc người. Đó là những điều khoản được thông qua bằng “lời nói vần” và được cộng đồng nghiêm chỉnh thực hiện.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. Luật tục Raglai về hôn nhân và gia đình Nguyễn Ngọc Thanh 1 1 Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Email: thanhvdth@gmail.com Nhận ngày 20 tháng 5 năm 2019. Chấp nhận đăng ngày 31 tháng 5 năm 2019. Tóm tắt: Luật tục Raglai bao quát hầu hết các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân và gia đình của cộng đồng nên có sức sống mãnh liệt trong đời sống tộc người. Đó là những điều khoản được thông qua bằng “lời nói vần” và được cộng đồng nghiêm chỉnh thực hiện. Luật tục góp phần vào điều chỉnh các mối quan hệ xã hội giữ gìn trật tự, an toàn trong cuộc sống và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, cộng đồng. Ngày nay, luật tục không điều chỉnh hoàn toàn đời sống cá nhân và cộng đồng như trong xã hội truyền thống nhưng nó vẫn tồn tại với sức sống lâu bền, chi phối đời sống của đồng bào Raglai. Từ khóa: Dân tộc Raglai, hôn nhân và gia đình, luật tục. Phân loại ngành: Dân tộc học Abstract: Raglai ethnic people’s customary law covers most of the issues in the marriage and family life of the community, so it has a strong vitality in their life. The law includes terms in “rhyming words” and is strictly implemented by the community. It contributes to the adjustment of social relations to maintain order and safety in life and protect the rights of family and community members. Today, customary law no longer completely regulates the personal and community life as in the traditional society, but it still exists with enduring vitality, strongly impacting the life of Raglai people. Keywords: Raglai ethnic group, marriage and family, customary law. Subject classification: Ethnology 1. Mở đầu trong cộng đồng xã hội của các tộc người. Có nhiều cách gọi về luật tục (như: luật Luật tục là một hiện tượng xuất hiện từ lâu không thành văn, luật dân gian, luật bản đời, có tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực địa, luật nguyên thủy) [3, tr.38]. Trong đời sống vật chất, tinh thần của con người tiếng Việt, các thuật ngữ “tập tục”, “lệ 81
  2. Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 - 2019 làng”, “hương ước”, và những năm gần đây nhóm hành vi vi phạm [9, tr.465]. Chiếm là “hương ước mới”, “quy ước làng văn dung lượng nhiều nhất trong luật tục truyền hóa”, “quy ước nông thôn mới” cũng có thể thống là 61 điều thuộc lĩnh vực hôn nhân, coi là hợp phần của luật tục. quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng. Điều Luật tục là một hệ thống các quy tắc xử đó cho thấy vị trí quan trọng của gia tộc, gia sự mang tính dân gian, quy định về mối đình mẫu hệ trong cộng đồng Raglai [9, quan hệ ứng xử của con người đối với môi tr.465]. Một điểm quan trọng trong luật tục trường tự nhiên và con người với con người là các hình phạt luôn sát đúng với từng mức trong cộng đồng, thể hiện ý chí của toàn thể độ sai phạm. Tuy rất nghiêm khắc, nhưng cộng đồng, được thực hiện một cách tự chế tài xử phạt không quá nặng, mục đích giác, theo thói quen, nhưng vẫn có tính để người vi phạm có khả năng chấp hành. cưỡng chế và bắt buộc đối với những ai Luật tục Raglai3 có 5 đặc tính cơ bản: (1) không tuân theo [5, tr.30]. Luật tục có thể Tính giáo dục; (2) Tính dân chủ; (3) Tính mang những tên gọi khác nhau nhưng vẫn hòa giải; (4) Tính nhân đạo; (5) Tính tâm đảm bảo mang hai yếu tố luật nước và lệ linh [3, tr.411-421], [1, tr.69]. Bài viết này làng, trong đó lệ làng dù được khai thác đến tìm hiểu Luật tục về hôn nhân và gia đình ở mức tối đa và được trình bày hết sức cụ thể, dân tộc Raglai và việc vận dụng luật tục đó chi tiết vẫn phải phục tùng luật nước [4, vào thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình ở tr.66]. người Raglai. Luật tục Raglai có từ lâu đời, được thể hiện dưới dạng “lời nói có vần”2 nên dễ đọc, dễ nhớ. Tất cả được xếp chung vào 2. Luật tục Raglai về hôn nhân một hệ thống mang tính giáo dục từ thấp lên cao gồm từ “thành ngữ, tục ngữ” đến Ở người Raglai, trai gái có quyền tự do yêu những “sự vụ, sự việc”, phong tục tập quán, đương, tìm hiểu và quyết định kết hôn. những điều “kiêng to, cữ lớn” [2, tr.394]. Trong trường hợp trai gái không còn ưng Đây đều là các quy phạm xã hội có phạm vi nhau thì vẫn có thể dừng việc cưới hỏi, dù điều chỉnh rộng lớn, thiết lập nên toàn bộ đã làm lễ dạm hỏi trao vòng. Việc “đứt giá trị, nền tảng cho các phán xét cả về đạo gánh giữa đường” như vậy không được ủng đức, luân lý lẫn pháp luật, từ đó quy định và hộ, nhưng cũng không vì thế mà bắt ép cưới chi phối mạnh mẽ các phong tục, tập quán ở xin nếu đôi trai gái không còn tình nguyện. địa phương. Nó góp phần đắc lực vào sự ổn Trong tình huống này, hai bên tổ chức trả định trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của của. Nếu do chàng trai chủ động thì phải các thành viên trong gia đình, dòng họ, đền lại toàn bộ lễ vật ban đầu đã đưa để cộng đồng buôn làng. cúng ma nhà cô gái, nếu cô gái bỏ chàng Trong cuốn Luật tục Chăm và Luật trai phải đền gấp đôi lễ vật để cúng ma nhà tục Raglai, phần luật tục Raglai gồm 5 chàng trai và phải mổ heo, gà, rượu tạ lỗi chương, riêng chương “Nội dung luật tục hai bên mối lái, gia đình [1, tr.101]. truyền thống Raglai” có 18 mục, 209 điều, Đối với tội loạn luân, Luật tục Raglai được trình bày phần lớn là “lời nói có vần”. xếp loạn luân thuộc loại kiêng to cữ lớn, Trong đó có sự phân định rõ ràng về các người Raglai quan niệm, đây là nguồn gốc 82
  3. Nguyễn Ngọc Thanh làm cho thần mặt trời, mặt trăng, thần sấm, lễ cưới phạt thì tội càng thêm nặng, vì đó là thần sét, thần mưa, thần bão... nổi giận làm hành vi vô đạo, coi thường ông bà tổ tiên, coi cho lụt lội nước biển dâng tràn. Luật tục thường các đấng linh thiêng ngự trị khắp trần quy định tội này có hai mức độ khác nhau. thế. Nếu đã làm lễ cưới phạt, cô dâu chú rể Một là, loạn luân trực hệ (anh em ruột phải chấp nhận nội dung quy định trong lễ thịt), đại loạn luân. Cặp hôn nhân nào vi cưới, đặc biệt là không được để mẹ đội khăn phạm phải chịu hình phạt chui vào chuồng lên đầu cho, không có được sự chúc phúc của heo, ăn cám trong máng, bò đi như heo và gia đình, dòng họ, không có sự chia vui của lo lễ vật trâu trắng, heo, gà để thực hiện bốn bạn bè và xóm làng. Đó là sự trừng phạt lớn nghi lễ: cúng chịu phạt với tổ tiên, cúng làm nhất nên rất ít cặp hôn nhân nào dám phạm lành vị tổ sanh và tổ tiên ông bà, cúng tạ ơn phải [10, tr.81]. tổ sanh và những người đứng ra lập đàn cúng tế; lập đàn xin tạ tội, tẩy rửa ô uế trước thần linh. Sau hình phạt, hai bên 3. Luật tục Raglai về gia đình không được tiếp tục quan hệ vợ chồng với nhau, còn lén lút quan hệ với nhau, thì làng Đối với quan hệ gia đình, luật tục nêu các tổ chức xử phạt lần hai với hình phạt nặng quy định trong việc sinh đẻ, nuôi con, trách hơn. Nếu tiếp tục vi phạm sẽ chịu hình phạt nhiệm của cha mẹ, trách nhiệm của người cao nhất là đuổi vào rừng, cắt đứt mọi quan phụ nữ, người chồng, trách nhiệm của cha hệ với làng và người trong làng. Ai gặp gỡ mẹ trong việc nuôi nấng, dưỡng dục con hoặc giúp đỡ sẽ bị xử phạt rất nặng. Hai là, cái... loạn luân trong dòng họ xa có mức độ thấp Bên cạnh các điều luật khẳng định vai hơn. Tội này được xét xử tùy theo từng đối trò của cha mẹ đối với con cái thì còn nhiều tượng, nhưng cũng phải lập đàn để cầu điều luật quy định về chuẩn mực, hành vi cúng xin tạ tội với thần linh [1, tr.141]. ứng xử của con cái đối với ông bà, cha mẹ. Người Raglai coi việc cưới xin là mốc Những tội danh như: con cháu hỗn láo với quan trọng đánh dấu sự trưởng thành trong ông bà, cha mẹ; con bỏ rơi cha mẹ không cuộc đời mỗi người. Vì vậy, luật tục hôn chăm sóc; con không vâng lời cha mẹ... đều nhân có rất nhiều quy định về các khâu tổ bị xử phạt nghiêm khắc. Điều đó đã thể chức đám cưới. Trước lễ cưới, đôi trai gái hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan hệ không được phép đi quá giới hạn. Nếu ứng xử trong gia đình cũng như trong cộng phạm phải những điều cấm kỵ, không còn đồng người Raglai. “trai trắng gái lành” là xúc phạm đến “Ông Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái chúa coi giữ sự trong trắng, Bà chúa coi giữ cũng được quy định rõ ràng. Khi con cái sự trinh bạch” (đây cũng là thần linh trông coi gây tội vạ với làng nước, cha mẹ cũng bị gìn giữ sự sinh tồn và phát triển giống bắp liên đới theo. Tuy vậy, Luật tục Raglai giống lúa). Bởi thế, giữ gìn sự trắng trong, không khuyến khích việc cha mẹ đối xử hà trinh bạch trước hôn nhân được coi là điều khắc, nặng lời chửi mắng hay đánh đập thiêng liêng. Nếu đã quan hệ tình dục trước thậm tệ khi con mắc lỗi. hôn nhân mà còn giấu giếm, không khai báo Luật tục quy định con cháu phải lễ phép trung thực với mọi người xung quanh để làm với người bề trên và phải luôn nhớ (hướng 83
  4. Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 - 2019 đến) đến họ cho trọn đạo làm con. Con Trường hợp vợ chồng ngoại tình, tục gọi là cháu dù bất cứ lý do gì cũng không được bỏ “bắt vợ nhau”, cả hai kẻ ngoại tình đều phải mặc, mà phải thương yêu, dưỡng nuôi ông bị phạt, nhưng với mức độ khác nhau. bà, cha mẹ. Trường hợp con cái bỏ cha mẹ Những người đã có vợ có chồng mà đi chỗ khác ở thì cha mẹ phải đi tìm con về, ngoại tình với nhau thì không chỉ có tội với nếu con không về thì cha mẹ có quyền báo vợ/chồng chính thức của mình mà còn bị cho cộng đồng để huy động người đưa con coi là xúc phạm đến tổ tiên ông bà, xúc về. Khi đứa con được mang về thì cha mẹ phạm đến thần linh. Sau khi xử việc, bên được phép đánh mắng, nếu người con hứa cạnh khoản đền bù vật chất, việc cúng tế tẩy không đi nữa thì sẽ tha thứ. Con cái có rửa không chỉ phải làm một lần mà còn phải ngôn từ xúc phạm ông bà, cha mẹ thì phải làm nhiều lần, kéo dài vài ba năm. cúng lại cho họ một con gà. Con cháu Trường hợp đàn ông có vợ mà ngoại tình không chăm sóc ông bà, cha mẹ thì bị bắt với gái chưa chồng, vì cô gái được xem là phạt hai con heo, một con tạ lỗi cho ông bà, “gái lành”, nhẹ dạ mà bị “đàn ông hư thân một con tạ lỗi với dân làng, đồng thời phải mất nết” dụ dỗ, lừa gạt, nên không phải lo ché rượu, quần áo mới để làm lễ tạ tội chịu phạt trước gia đình và dân làng. Người với ông bà. Trường hợp người đó không đàn ông lăng nhăng phải chịu phạt một mặt chịu thì già làng đứng ra xét xử. Người đó Mã la, heo 3-6 gang tay, ché rượu tạ tội cho sẽ không được thừa kế tài sản của ông bà, cô gái và gia đình cô gái, trên danh nghĩa là cha mẹ để lại. đền bù sự mất mát trinh tiết cho cô gái (hayar Luật tục có quy định rõ hình thức xử valơu), lại chịu phạt heo, gà cho cả gia đình phạt đối với con rể có hành vi bất kính với vợ. Đồng thời phải hứa cắt đứt quan hệ, cha mẹ vợ hoặc những người họ hàng bên không đi lại với cô gái nữa, nếu tiếp tục vi đó. Con rể mà đánh cha mẹ vợ thì tội nặng phạm sẽ bị làng phạt gấp đôi, gấp ba. hơn là đánh cha mẹ đẻ. Trường hợp này anh Người Raglai rất trân trọng đức tính thật ta chịu phạt vạ. Lễ vật phạt vạ gồm heo và thà, cho nên người nào ghen tuông mà nói gà. Nếu phạt vạ xong mà vẫn tái diễn thì bố dối, vu khống vợ mình (với) chồng người, mẹ vợ có quyền đuổi con rể ra khỏi nhà. vợ người (với) chồng mình... thì phải chịu Về quan hệ vợ chồng, người Raglai có phạt. Sau cuộc xử việc với sự có mặt của quan niệm: con trai con gái xây dựng gia mẹ cha, cậu, chú, mối lái hai bên (để biện đình không đơn thuần là hạnh phúc lứa đôi, hộ phân xử), người vu khống sẽ phải nộp gia đình yên ấm mà còn là nghĩa vụ duy trì, ché rượu cần, heo, gà để cúng cho người bị phát triển cộng đồng dân tộc. Do đó, luật vu khống, tạ tội và nói lời cam đoan. tục nêu ra nhiều chi tiết cụ thể về cuộc sống Luật tục hoàn toàn không ủng hộ bạo lực vợ chồng trong gia đình mẫu hệ về sau. Đa giữa vợ và chồng. Chuyện vợ đánh chồng là phần đó là sự phê phán các hành vi lố lăng, rất hãn hữu cho nên không có quy định xử không giữ được sự chung thủy, tình yêu lý cụ thể, nhưng trường hợp ngược lại thì trọn vẹn giữa vợ và chồng. Trường hợp có. Người chồng vì ghen tuông, hay vì một chồng bỏ vợ đi biệt tích lâu năm, gia đình nguyên nhân nào đó mà làm hại vợ, làm vợ nhà chồng và ông mai khi xưa phải đứng ra bị thương thì phải tìm thầy, tìm thuốc về nhận trách nhiệm trước bên thông gia. chữa cho vợ lành, đồng thời phải tạ lỗi cha 84
  5. Nguyễn Ngọc Thanh mẹ, ông bà nhà vợ. Còn nếu chủ ý cài bẫy trong Luật hôn nhân và gia đình. Luật đã đề để vợ bị thương hay chết thì bắt buộc phải cập đến các hành vi phải nghiêm cấm để đền mạng. Đây là một đặc điểm trọng yếu bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình như vi cho thấy luật tục mang tính chất bảo vệ phạm chế độ một vợ một chồng; kết hôn giả người phụ nữ, bảo vệ chế độ mẫu hệ. tạo, ly hôn giả tạo; cưỡng ép kết hôn/ly hôn, lừa dối kết hôn/ly hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như 4. Vận dụng Luật tục Raglai vào thực vợ chồng với người khác (hoặc chưa có vợ, hiện Luật hôn nhân và gia đình chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có Luật tục Raglai tồn tại dưới dạng lời nói có vợ); kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vần, điệu, giàu hình ảnh, cụ thể, sinh động, giữa những người cùng dòng máu về trực đa phần là truyền miệng, làm cho người ta hệ, giữa những người có họ trong phạm vi có thể hình dung và nhận thức bằng trực ba đời, giữa cha chồng với con dâu, mẹ vợ giác. Điều này khác hẳn với ngôn ngữ pháp với con rể (điều 5, chương I, Luật hôn nhân luật là những văn bản được khái quát hóa và gia đình 2014) [7]; ngược đãi, hành hạ, cao, ngắn gọn, chính xác. Mặt khác, luật tục xúc phạm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, được hình thành do nhu cầu quản lý xã hội cháu, anh, chị em và các thành viên khác cộng đồng, tính chất của hoạt động quản lý trong gia đình; xúi giục, ép buộc con làm tuy còn khá đơn giản nhưng lại tác động những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã mạnh đến nhận thức và hành vi của các hội (điều 4, chương I và điều 34 chương IV, thành viên trong cộng đồng. Luật hôn nhân và gia đình 2000) [6]... Trong điều kiện các quan hệ hôn nhân Luật khuyến khích thực hiện các quyền ngày càng trở nên phức tạp, thì những và nghĩa vụ: hôn nhân tự nguyện, vợ chồng phong tục tập quán tốt đẹp và các quy định bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, hạnh tiến bộ của luật tục đang phát huy vai trò phúc; các thành viên gia đình tôn trọng, tích cực. Ngược lại, Luật hôn nhân và gia đình cũng có sự tác động trở lại luật tục một quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau (điều 2, cách mạnh mẽ. Nhờ có luật, các quy định chương I, Luật hôn nhân và gia đình 2014); tiến bộ trong luật tục được củng cố và phát vợ chồng thương yêu, chung thủy, tôn trọng huy, các quy định lỗi thời như hôn nhân nối nhau (điều 19, chương III, Luật hôn nhân nòi, đánh đuổi người vi phạm luật tục ra và gia đình 2014); cha mẹ chăm lo việc học khỏi làng, con đã thành niên vi phạm luật tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về tục nhưng bắt cha mẹ bồi thường... đã từng thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người bước được xóa bỏ. Các tội hiếp dâm, trộm con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cắp, tranh chấp về đất đai, thừa kế, bồi cho xã hội; cha mẹ không được phân biệt thường thiệt hại trước đây do chủ làng và đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo các đầu khôn người già xử lý theo luật tục tình trạng hôn nhân của cha mẹ (điều 69, thì nay đã được đưa đến Tòa án nhân dân chương V, Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết. 2014); cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do Đặc biệt, nhiều quy định tiến bộ của con chưa thành niên (điều 74, chương V, Luật tục Raglai được phản ánh khá rõ nét Luật hôn nhân và gia đình 2014); con có 85
  6. Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 - 2019 bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu đẳng ngang nhau giữa các cá nhân), các quy thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh định về hôn nhân trong Luật tục Raglai bảo dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình (điều vệ chế độ hôn nhân theo chế độ mẫu hệ, 70, chương V, Luật hôn nhân và gia đình quan hệ trong gia đình do đó là quan hệ một 2014); con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, chiều, đề cao vai trò của người phụ nữ nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm trong gia đình. Theo quan niệm của người đau, già yếu, khuyết tật (điều 71, chương V, Raglai, vai trò quyết định trong gia đình Luật hôn nhân và gia đình 2014); cháu có thuộc về người vợ, người chị gái hoặc nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng người phụ nữ lớn tuổi nhất. Đàn ông không dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại (điều 104, có quyền từ chối đi ở rể (nếu nhà gái yêu chương VI, Luật hôn nhân và gia đình cầu), và quyền để lại thừa kế cho mẹ đẻ hay 2014); anh, chị, em thương yêu, chăm sóc, những người trong dòng tộc của mình thì bị giúp đỡ nhau, nuôi dưỡng nhau trong hạn chế. Tuy họ có thể đề xuất ly hôn trong trường hợp không còn cha mẹ (điều 105, một số trường hợp, song, nhìn chung xã hội chương VI, Luật hôn nhân và gia đình bộc lộ sự thiên vị cho người vợ hơn khi xử 2014); cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu lý các vấn đề phát sinh trong ly hôn và hậu ruột thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ly hôn. có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong Có những điều trong luật tục thể hiện trường hợp người cần được nuôi dưỡng khoảng “vênh” hay xung đột trực tiếp với không còn cha, mẹ, con (điều 106, chương luật của Nhà nước. Cụ thể, người Raglai VI, Luật hôn nhân và gia đình 2014) [7]... không cấm người chồng lấy hai vợ trong Có thể nói, so với các lĩnh vực pháp luật trường hợp vợ đầu không sinh được con, khác, Luật hôn nhân và gia đình và lĩnh vực không cấm chồng ly hôn khi người vợ đang hôn nhân trong Luật tục Raglai có mối quan mang thai hoặc nuôi con sơ sinh. Thay vì hệ khá gần gũi. Các quy định trong chương cho phép người có quan hệ huyết thống từ 3 các trọng tội của Luật tục Raglai có sự đời trở lên lấy nhau, một số nơi chỉ cho tương đồng với các quy định của phần “bảo phép khi đủ 7 đời trở lên, hoặc khi hai vệ chế độ hôn nhân gia đình” trong Luật người khác họ hoặc chi họ. Trường hợp cha Hôn nhân và Gia đình (và cả phần “các tội mẹ đều qua đời mà không để lại di nguyện, phạm” trong Luật Hình sự) của Nhà nước. tài sản cha mẹ làm ra (và tài sản cha mẹ kế Đồng thời, luật ghi nhận hầu hết những thừa từ ông bà) không được chia đều cho điểm tinh hoa nhất của Luật tục Raglai các con mà thường trao cho con gái cả hoặc trong quan hệ hôn nhân và quan hệ giữa các con gái út mà không trao cho con trai trong thành viên trong gia đình, đề cao sự đoàn nhà. Do đó, việc áp dụng quy định của Luật kết gắn bó của các thế hệ cùng chung sống, hôn nhân và gia đình, Luật Thừa kế, Luật làm việc, tương trợ nhau, chịu trách nhiệm Đất đai khi giải quyết tranh chấp trong lĩnh về hành vi của nhau [9, tr.497]. vực hôn nhân gia đình nhiều khi vấp phải Bên cạnh những ưu điểm trên, Luật tục sự phản ứng của cộng đồng Raglai [9, Raglai còn một số hạn chế. So với Luật hôn tr.498]. nhân và gia đình nói riêng và pháp luật Việt Phương thức xử việc theo cách truyền Nam nói chung (vốn đề cao quan hệ bình thống cũng có điểm chưa tiến bộ. Trước 86
  7. Nguyễn Ngọc Thanh đây, các vụ xử kiện chủ yếu theo hình thức Raglai trong trường hợp này sẽ nhanh họp dân làng tuyên bố tội trạng của người chóng và triệt để hơn pháp luật. vi phạm bằng cách đọc những đoạn thi ca Vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, truyền khẩu và tuyên phạt đền bằng hiện pháp luật Việt Nam hiện nay mới chỉ có vật. Hoạt động này tuy nhanh gọn nhưng quy định xử lý tội quan hệ tình dục trước không có bất cứ một cơ quan nào giám sát, tuổi quy định gắn với hành vi giao cấu với người phạm tội không có quyền khiếu nại, trẻ em (thường là nam trên tuổi vị thành không có quyền được kêu oan trong trường niên quan hệ với nữ tuổi vị thành niên), chứ hợp bị xét xử oan. hoàn toàn không có chế tài xử lý hành vi Nhìn từ góc độ khác, có nhiều phong tục quan hệ tình dục tự nguyện giữa nam và nữ tập quán tiến bộ được quy định trong luật vị thành niên như quy định về đám cưới tẩy tục đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, rửa trong Luật tục Raglai. nhưng chưa nghiêm khắc, chưa triệt để, Nan giải nhất là pháp luật chỉ xử lý được xuất phát từ việc thiếu chế tài thích hợp, các vấn đề phát sinh trong quan hệ gia đình hoặc hạn chế từ chính bản thân phương khi hôn nhân giữa vợ và chồng được thừa thức thực hiện luật. Chẳng hạn: tội loạn nhận trên luật định, tức là phải có giấy đăng luân trong Luật tục Raglai, bị xử lý bằng ký kết hôn. Những trường hợp không có những hình phạt hết sức nặng nề, cho nên giấy đăng ký kết hôn mà tổ chức đám cưới trong xã hội truyền thống gần như không có hay chung sống như vợ chồng thì không thể ai phạm tội này. Song, tội loạn luân được giải quyết vấn đề bằng pháp luật được. quy định trong hệ thống pháp luật Việt Không như luật tục vốn xác định quan hệ Nam chỉ được coi như một điều cấm chứ vợ chồng bằng đám cưới (đám cưới chính không có chế tài xử lý riêng mang tính răn thức hay cưới phạt đều được), pháp luật xác đe. Tội này hầu như chỉ bị phạt hành chính, định mối quan hệ này bằng chứng nhân hoặc được tính như một tình tiết tăng nặng đăng ký kết hôn có đóng dấu đỏ của chính cho một tội khác được quy định trong Luật quyền cấp xã (điều này còn xa lạ với đồng Hình sự (giao cấu với trẻ em có yếu tố loạn bào ở nhiều khu vực vùng sâu vùng xa). luân, cố tình lây truyền bệnh truyền nhiễm Sự lúng túng, thiếu kiên quyết đối với bằng quan hệ tình dục có yếu tố loạn luân, các trường hợp kể trên là một thực tế đã và ngoại tình có yếu tố loạn luân) [9, tr.499]. đang diễn ra ở tộc người Raglai nói riêng và Các tội ngược đãi, bạo hành trong gia vùng dân tộc thiểu số nói chung. Vì vậy, đình, các cơ quan pháp luật chỉ vận dụng cần phải có sự nghiên cứu, điều chỉnh lại hệ được luật khi người bị hại có đơn yêu cầu thống pháp luật từ các cơ quan Trung ương và họ xác minh được người bị hại đã chịu trong thời gian tới. tổn hại về thể chất hoặc tinh thần, còn không thì không có căn cứ để xét xử. Trong khi đó, đối với người Raglai, cha mẹ 5. Kết luận thường không đưa đơn tố cáo con cái ngược đãi mình mà trưởng thôn, buôn tự biết việc Luật tục Raglai được hình thành từ nhu cầu xảy ra trong cụm dân cư để áp dụng luật quản lý xã hội và được cộng đồng thừa tục. Như vậy, việc xử lý bằng Luật tục nhận, thực hiện một cách tự giác. Qua một 87
  8. Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 - 2019 thời gian dài áp dụng, được sàng lọc và Tài liệu tham khảo kiểm nghiệm tính hợp lý trong thực tiễn, nó đã trở thành truyền thống, trở thành những [1] Nguyễn Hữu Bài, Trần Kiêm Hoàng, Lê Văn chuẩn mực mang tính phong tục. Luật tục Hoa, Trần Vũ, Chamaliaq Riya Tiẻnq (2014), có thể coi là tri thức của tộc người với Văn hóa dân gian Raglai ở Khánh Hòa, Nxb những quy định cấm đoán, khích lệ hay xử Văn hóa - Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh. phạt, được mọi người thừa nhận và mọi cá [2] Phan Đăng Nhật (Chủ biên) (2003), Luật tục nhân, gia đình, dòng họ phải tuân theo. Chăm và Luật tục Raglai, Nxb Văn hóa dân Trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất tộc, Hà Nội. định, luật tục là nền tảng của pháp luật nhà [3] Phan Đăng Nhật (2007), “Luật tục - một giá trị nước, và người ta sợ sự trừng phạt của luật văn hóa phi vật thể đặc sắc”, Tạp chí Di sản tục hơn là sự trừng phạt từ pháp luật. Luật văn hóa, số 1. tục đã góp phần quan trọng xây dựng một [4] Nguyễn Quang Ngọc (2003), “Nguyên tắc xây xã hội Raglai đoàn kết, tương trợ nhau dựng và các thời điểm xuất hiện hương ước”, trong sản xuất và trong đời sống, một xã hội Đào Trí Úc (Chủ biên), Hương ước trong quá giàu tính nhân văn. trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. [5] Hoàng Văn Quynh (2018), Luật tục về bảo vệ Chú thích tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam (Qua luật tục của các dân tộc thiểu số ở (2) Xem lời nói vần từ trang 509 đến trang 684 trong Tây Bắc và Tây Nguyên), Luận án Tiến sĩ, cuốn Luật tục Chăm và Luật tục Raglai [3]. Học viện khoa học xã hội, Hà Nội. (3) “Nội dung Luật tục truyền thống Raglai” được [6] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt sắp thành 1 chương, 18 mục, với 209 điều, cụ thể Nam (2000), Luật Hôn nhân và Gia đình. như sau: 69 điều về những quy định chung về tổ [7] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt chức xét xử, thành phần xét xử, phương thức xét xử Nam (2014), Luật Hôn nhân và Gia đình. sự vụ, sự việc từ nhẹ đến nặng; 3 điều về quyền sở [8] Lê Hồng Sơn (2003), “Mối quan hệ giữa hữu đất đai, rừng núi không ai được xâm phạm đến; hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư và 6 điều về bảo vệ môi trường, nguồn nước, thú rừng; pháp luật của Nhà nước”, Đào Trí Úc (Chủ 10 điều về bảo vệ rừng, bảo vệ đất; 11 điều về bảo biên), Hương ước trong quá trình thực hiện vệ của cải, tài sản; 4 điều về tội trộm cắp, lừa gạt, dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb chiếm đoạt tài sản; 8 điều về quản lý, bảo vệ trâu bò, Chính trị quốc gia, Hà Nội. gia súc; 21 điều về hôn nhân, cưới xin và nhiệm vụ [9] Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên) (2018), Hôn đối với gia đình; 4 điều tội về tình dục, 6 điều về tội nhân và gia đình của dân tộc Raglai ở Khánh loạn luân; 11 điều về quan hệ giữa cha mẹ và con Hòa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. cái, 19 điều về quan hệ vợ chồng; 4 điều về lời ăn [10] Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Linh Hương tiếng nói; 12 điều về hành vi chung trong xã hội; 22 (2016), “Luật tục Raglai về Hôn nhân”, Tạp điều về những tội nặng. chí Văn hóa học, số 3. …................................ 88

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Một số quy định mới về chứng minh và chứng cứ trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Chứng cứ và chứng minh là một vấn đề quan trọng, là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự. Trong Bộ luật tố tụng hình sự (Sau đây viết tắt là BLTTHS) năm 2003 những quy định liên quan đến chứng cứ được quy định ở chương V còn nhiều thiếu sót, bất cập chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn hiện nay.


Tìm hiểu quy định của bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Bộ luật Hình sự năm 2015 (Luật số 100/2015/QH 13) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH 13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017, cả hai Luật trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Trong Bộ luật Hình sự này có quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Sau đây xin trình bày kết quả nghiên cứu bước đầu và giới thiệu cùng bạn đọc về các tội phạm trên.


Vật quyền đối với tàu biển theo pháp luật Việt Nam

Vật quyền là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự, được quy định dưới góc độ luật chung. Tuy nhiên, vật quyền đối với tàu biển được quy định trong pháp luật hàng hải - với tư cách là luật chuyên ngành lại mang tính đặc thù. Bài báo tập trung phân tích mối quan hệ giữa quy định của luật chung với những quy định của luật chuyên ngành, qua đó giúp làm giàu thêm, sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và pháp lý của vật quyền đối với tàu biển đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vật quyền đối với tàu biển.


Những khiếu nại phát sinh tranh chấp trong hoạt động xuất khẩu thuyền viên

Bài viết sẽ phân tích và đưa ra những khiếu nại chính yếu, cơ bản có thể dẫn đến những tranh chấp pháp lý trong hoạt động xuất khẩu thuyền viên.


Sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với hiểm họa vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển

Vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển là một trong những hiểm họa hiện hữu đe dọa tới an ninh hàng hải, tác động trực tiếp tới an ninh quốc gia và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Bài viết phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, từ đó góp phần tuyên truyền, giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật trong công tác đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi hiểm họa này.


Tác động tích cực của Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 tới sự phát triển bền vững thị trường bất động sản

Phát triển bền vững và quản lý hiệu quả thị trường bất động sản sẽ góp phần đáng kể vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, tạo khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Nghiên cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự Việt Nam và một số nước thuộc Tổ chức hài hòa hóa pháp luật kinh doanh châu Phi: Tiếp cận dưới góc độ so sánh

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu so sánh, bài viết rút ra những kết luận và đề xuất các kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam.


Quy chế pháp lí của các đảo, thực thể khác và tính vô hiệu của yêu sách Đường chín đoạn trên Biển Đông theo Phán quyết Trọng tài trong vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc

Bài viết phân tích những nội dung chủ yếu của Phán quyết Trọng tài trong vụ việc Phi-lip-pin kiện Trung Quốc ở Biển Đông liên quan đến quy chế pháp lí các đảo, các thực thể khác trên Biển Đông, đến yêu sách phi lí Đường chín đoạn của Trung Quốc và những hành vi của nước này trên Biển Đông.


Đề xuất các nguyên lí cần bảo đảm khi xây dựng chế tài trong xử phạt vi phạm hành chính ở Việt Nam

Trên cơ sở tư duy logic, đặc điểm, tính chất của từng loại chế tài, bài viết tập trung phân tích những nguyên lí cần bảo đảm để xây dựng một hệ thống chế tài hành chính hoàn thiện ở Việt Nam hiện nay.


Chính sách ưu đãi thuế và tránh thuế dưới hình thức chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng chính sách ưu đãi thuế của Chính phủ và hình thức tránh thuế dưới hình thức chuyển giá tại Việt Nam của những nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế và hạn chế hành vi tránh thuế dưới hình thức chuyển giá của các nhà đầu tư nước ngoài.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu