Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Loại Máu và Yếu Tố Rh

Máu là một mô lỏng, lưu hành khắp cơ thể trong các động mạch, tĩnh mạch và là một phương tiện chuyên chở nhiều chất khác nhau giữa mô và các cơ quan. Máu gồm nhiều loại tế bào máu trong một môi trường lỏng gọi là huyết tương. Mỗi người nam trưởng thành có khoảng 6 lít máu, người nữ ít hơn: 4- 5 lít



Đánh giá tài liệu

4.3 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Loại Máu và Yếu Tố Rh Loại Máu và Yếu Tố Rh y tế sức khỏe, y học thường thức, phương pháp điều trị, biện pháp phòng bệnh, Loại Máu và Yếu Tố Rh
4.3 5 3014
  • 5 - Rất hữu ích 885

  • 4 - Tốt 2.129

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. Loại Máu và Yếu Tố Rh Bác sĩ Nguyễn Ý Đức (Câu Chuyện Thầy Lang) Tòa soạn một tuần báo thân hữu có chuyển cho người viết lá thư như sau của độc giả Trần Hữu hỏi về vấn đề sảy thai và loại máu không tương hợp. “Hamilton, Oct. 12, 2007 Tôi có đứa cháu ở Việt Nam, lập gia đình lâu rồi, nhưng hễ mỗi lần người vợ mang thai trong vài tháng là sNy thai, đã nhiều lần như vậy. Các cháu cũng đi bác sĩ khám bệnh, nhưng tình trạng vẫn không chút khả quan. Trước đây trên 40 năm, lúc còn ở Việt N am, tôi có đọc sách y khoa của hai Bác sĩ Lương Phán và N guyễn Thị Lợi, có đề cập đến đề tài "con ranh con lộn" và giải thích qua các loại máu và Rhesus + / -. Tôi nhớ đại khái là người vợ và chồng nếu hai người mang Rhesus tương phản nhau thì bào thai sẽ bị phản ứng và bị hư hoặc có sanh ra thì cũng "chết" mà thai nhi thường sẫm màu. Bác sĩ cũng nói là nhiều lần mang thai như vậy, kháng nguyên người mẹ phải chống với bào thai nên cũng có thể mất mạng sau nhiều lần mang thai. Tôi chỉ nhớ đại khái như trên, không hiểu có phần nào đúng không, mong sự giải thích cặn kẽ, hầu tôi sẽ gởi bài của quý vị về vợ chồng đứa cháu tôi ở Việt N am để chúng tham khảo và theo phương hướng điều trị. Trong khi chờ đợi bài giải thích, xin quý vị cùng ban biên tập tòa soạn Thời Báo nhận nơi đây lòng thành kính biết ơn của tôi. Kính, Trần Hữu” Vì không có đủ dữ kiện về việc “liên tục sảy thai” của người cháu, nên chúng tôi chỉ xin gửi tới ông Hữu và độc giả một chút hiểu biết về loại máu và sự không tương hợp giữa các loại máu. Máu Máu là một mô lỏng, lưu hành khắp cơ thể trong các động mạch, tĩnh mạch và là một phương tiện chuyên chở nhiều chất khác nhau giữa mô và các cơ quan. Máu gồm nhiều loại tế bào máu trong một môi trường lỏng gọi là huyết tương. Mỗi người nam trưởng thành có khoảng 6 lít máu, người nữ ít hơn: 4- 5 lít. Máu có nhiều nhiệm vụ quan trọng: -Máu mang oxy vào cơ thể và loại khí CO2 ra ngoài -Máu là một dung dịch cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể, vì máu chuyên chở các chất dinh dưỡng từ sự tiêu hóa và các hormon do các tuyến nội tiết sản xuất. -Máu là dung dịch của sức khỏe, chuyên chở các chất phòng chống bệnh tới các tế bào và chất phế thải tới thận để loại ra ngoài cơ thể. -Máu cũng giúp điều hòa thân nhiệt, chứa những chất ngăn sự xuất huyết từ các vết thương, cân bằng dung dịch chất lỏng trong các tế bào. Máu có những tế báo sống như hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và tiểu cầu. Hồng cầu và bạch cầu có nhiệm vụ nuôi dưỡng và làm sạch cơ thể. Tiểu cầu giúp máu ở trạng thái đặc. Thiếu tiểu cầu, con người sẽ mất máu và chết. Vì là tế bào sống, các tế bào máu cũng cần được nuôi dưỡng với sinh tố, khoáng chất và các chất dinh dưỡng chính. Máu có 55% huyết tương, một chất lỏng trong mầu vàng rơm.
  2. Loại máu N hìn với mắt thường, máu mọi người nom mầu sắc giống nhau. N hưng dưới kính hiển vi, tế bào máu có nhiều nét khác nhau, đặc biệt là ở hồng cầu. Khoa học gia người Mỹ gốc Áo Karl Landsteiner (1868-1943) đã tìm ra hai loại chất đạm riêng rẽ trên mặt hồng cầu. Đó là các kháng nguyên A và B. N hờ sự khám phá này, ông được giải N obel y học vào năm 1930. N ếu hồng cầu chỉ có kháng nguyên A, máu đó thuộc loại A. N ếu chỉ có kháng nguyên B thì là máu loại B. Có cả A và B thì thuộc loại AB. Không có A hoặc B thì là máu loại O. Máu của một loại này chứa các kháng thể trong huyết thanh chống lại các hồng huyết cầu của loại khác. Khi hai loại máu trộn lẫn với nhau, các hồng cầu có thể kết chùm lại và gây ra hậu quả chết người được. Do đó: N gười có máu loại A có thể truyền máu cho người có loại A hoặc AB. N gười có loại B có thể sang máu cho người loại B hoặc AB N gười có loại AB chỉ truyền máu cho người cùng loại AB mà thôi N gười có máu loại O có thể cho máu cho bất cứ ai. Cũng vậy: N gười có loại A có thể nhận máu loại A và O N gười có loại B có thể nhận máu từ loại B và O N gười có loại AB có thể nhận máu của bất cứ ai N gười có loại O chỉ nhận được máu từ người có loại O. Loại máu do di truyền quyết định và tỷ lệ loại máu trong dân chúng thay đổi tùy theo chủng tộc. Chẳng hạn 45% người da trắng tại Hoa Kỳ có loại máu 0. Đúng ra là có tới hơn 30 hệ thống phân loại nhóm máu, nhưng hệ thống ABO quan trọng hơn cả. Đến năm 1940, các nhà khoa học Kart Landsteiner và Alexander Wiener lại tìm ra một chất đạm khác trên mặt của hồng cầu gọi là yếu tố Rhesus (Rh). Rhesus là một loại khỉ nhỏ có nhiều ở miền Bắc Ân Độ, được dùng thường xuyên trong các cuộc thí nghiệm sinh học. Cũng từ loại khỉ Rhesus này mà kháng nguyên Rh được khám phá lần đầu. N gười có yếu tố này được gọi là Rh +, nếu không có sẽ là Rh-. Đa số dân chúng (85%) có Rh+. Yếu tố Rh liên hệ với loại máu. Vì thế nếu người loại A có Rh sẽ được ghi là A+; nếu không có Rh sẽ được ghi là A-. N gười có Rh- tiếp nhận máu Rh+ sẽ tạo ra kháng thể chống lại hồng cầu Rh+. Trong các lần nhận máu sau đó, kháng thể này sẽ hủy hoại các hồng cầu nào có Rh+. Đó là sự không- tương- hợp Rh (Rh Incompatibility). Sự không tương hợp chỉ xảy ra khi mẹ Rh âm và con Rh dương; không xảy ra khi mẹ Rh +, con Rh- hoặc khi cả mẹ và con đều âm hoặc dương Rh. N hắc lại là trong khi mang thai, các chất dinh dưỡng và kháng thể từ máu của mẹ chuyển sang con qua nhau thai, nhưng hồng cầu không qua được, ngoại trừ khi nhau thai bị rách. Trong suốt thời gian mang thai lần đầu không có vấn đề gì xảy ra vì máu con không xâm nhập máu mẹ. N hưng khi sanh, một chút máu Rh+ của con có thể vào cơ thể mẹ. Mẹ sẽ sản xuất ra kháng thể chống lại với kháng nguyên Rh+ này. Tới các lần có thai kế tiếp, nếu thai nhi Rh+, kháng thể trong máu mẹ sẽ nhận ra và sẽ tiêu hủy các hồng cầu mang Rh+. Hậu quả là thai nhi sẽ bị thiếu máu, vàng da… vì tan huyết. Đó là chứng loạn nguyên- hồng-cầu sơ-sinh (Erythroblastosis fetalis). Phương
  3. thức trị liệu hữu hiệu là truyền cho con một số lượng lớn máu Rh+ đồng thời rút máu con ra để loại bỏ hết kháng thể Rh+. Sự không tương-hợp Rh ở người mẹ có thể tránh được bằng cách chích cho mẹ globulin miễn dịch Rh (Rho-GAM) khi có thai lần đầu và các lần sau đó. Thuốc được chích làm hai lần. Lần thứ nhất vào tuần lễ thứ 28 của thai kỳ và lần thứ hai chích trong vòng 72 giờ sau khi sanh. Thuốc tác động như một vaccin, loại bỏ kháng nguyên Rh+ trong máu mẹ và ngăn chận sự tạo ra kháng thể đối nghịch với Rh+ của con. Sảy thai Về sảy thai, có nhiều nguyên do khác nhau, như là: a-Bất bình thường ở các nhiễm thể của thai nhi: Đây là rủi ro sảy thai thường thấy, nhất là trong 13 tuần lễ đầu của thai kỳ. b-Bệnh của mẹ như tiểu đường không kiểm soát, cao huyết áp, ban đỏ lupus, một vài bệnh truyền nhiễm như ban đào (rubella), nhiễm virus herpes simplex, vi khuNn Clamydia. c-Mất thăng bằng hormon trong cơ thể, như thiếu hormon nữ progesteron để sửa soạn niêm mạc thích hợp nuôi dưỡng thai nhi. d-Bất bình thường trong cấu trúc của dạ con và cổ tử cung như u xơ từ cung, cổ tử cung yếu, có thai ngoài tử cung. đ-Rối loạn hệ miễn dịch khiến cho cơ thể không bảo vệ nuôi dưỡng được thai nhi. e-Lối sống không lành mạnh như hút thuốc lá, nghiện rượu- thuốc, thiếu dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ. N goài ra, tuổi tác cũng là một yếu tố. Trong đa số các trường hợp, phụ nữ khỏe mạnh có tỷ lệ sảy thai từ 15-20%. Tỷ lệ tăng với tuổi cao: Dưới 35 tuổi, khoảng 35%. Trên 45 tuổi, 50% có nguy cơ sảy thai. Quý bà mẹ dễ dàng bị sảy thai cần được bác sĩ chuyên về sản phụ khoa khám và thử nghiệm để tìm ra nguyên nhân rồi điều trị. N goại trừ một số rủi ro di truyền, tuổi tác, các rủi ro khác có thể phòng tránh được. Trước khi sẵn sàng để có thai, nên chăm sóc để có một cơ thể khỏe mạnh với dinh dưỡng đầy đủ, vận động đều đặn, giữ cân nặng trung bình, không hút thuốc lá, uống thêm folic acit và giảm thiểu căng thẳng tinh thần. Khi đã được xác định là có thai, cần tiếp tục nếp sống lành mạnh cộng thêm không uống rượu, đừng tiếp cận với khói thuốc là, giới hạn hoặc đừng uống nước có nhiều caffeine, tránh va chạm tổn thương tới bụng mang dạ chửa, tránh các sinh hoạt quá mạnh và luôn luôn yêu đời, vui với con trong lòng mẹ. Chín tháng mười ngày “mang nặng” sẽ qua rất mau, tới ngày “đẻ đau”, khai hoa nở nhụy để làm mẹ, với “hòn máu” thân yêu của mình. Cả nhà đều hân hoan mừng vui khi thấy ánh mắt sáng ngời của con. Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, Texas-Hoa Kỳ Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược N gày N ay, www.yduocngaynay.com

Tài liệu cùng danh mục Y học thường thức

ANEUPLOIDY IN HEALTH AND DISEASE

Genetic information is physically carried on large DNA strings that are organized into chromosomes. Each species is characterized by a chromosome set that carry the information necessary and sufficient for its development and survival. Eukaryotic organisms are mostly diploid, containing two sets of chromosomes with each pair carrying nearly identical genetic information. Occasionally, exceptions to this rule are found, such as haploid yeast (with only one set of chromosomes) or polyploid ferns and frogs (with multiple sets). Nevertheless, the composition of chromosome set remains identical within a species....


Sử dụng “nước đá” trong điều trị ung thư vú

Kỹ thuật mới được gọi bằng cái tên là "Cryotherapy" đã được sử dụng từ trước đó cho căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Nhưng đây là lần đầu tiên thành công trong việc điều trị căn bệnh ung thư vú bằng cách sử dụng hơi lạnh của nước đá mà không cần phải trải qua công tác phẫu thuật thông thường. Mới đây, các nhà nghiên cứu đã ra thông báo rằng một kỹ thuật mới cho phép hủy diệt các khối u gây nên căn bệnh ung thư vú bằng cách “bơm” đá lạnh bao quanh vùng...


Chapter 140. Infections Due to the HACEK Group and Miscellaneous Gram-Negative Bacteria (Part 1)

Harrison's Internal Medicine Chapter 140. Infections Due to the HACEK Group and Miscellaneous Gram-Negative Bacteria The HACEK Group HACEK organisms are a group of fastidious, slow-growing, gram-negative bacteria whose growth requires an atmosphere of carbon dioxide. Species belonging to this group include several Haemophilus species, Actinobacillus actinomycetemcomitans, Cardiobacterium hominis, Eikenella corrodens, and Kingella kingae. HACEK bacteria normally reside in the oral cavity and have been associated with local infections in the mouth. They are also known to cause severe systemic infections—most often bacterial endocarditis, which can develop on either native or prosthetic valves (Chap. 118). ...


Bệnh tự kỷ và thuỷ ngân

Bệnh tự kỷ và thuỷ ngân Nhiều phụ huynh quan tâm lo lắng về khả năng liên quan giữa bệnh tự kỷ và sự tiếp xúc với thuỷ ngân. Thế nhưng hầu hết các nghiên cứu đã bỏ qua vấn đề này mà không có bằng chứng cụ thể, hiện có một nghiên cứu mới cho biết trẻ mắc bệnh tự kỷ có hàm lượng thuỷ ngân trong máu thật sự thấp hơn so với trẻ phát triển bình thường. Bệnh tự kỷ và thuỷ ngân Nhiều phụ huynh quan tâm lo lắng về khả năng liên quan giữa bệnh...


Thuốc chống lao - thuốc điều trị phong (Kỳ 5)

Nguyên tắc dùng thuốc chống lao và một số phác đồ điều trị lao 1.4.1. Nguyên tắc dùng thuốc chống lao - Để giảm tỷ lệ kháng thuốc và rút ngắn thời gian điều trị, các thuốc chống lao luôn dùng cùng một lúc (vào thời gian nhất định trong ngày) ít nhất 3 loại thuốc trong 24 giờ và có thể phối hợp 4-5 thuốc trong giai đoạn tấn công 2 - 3 tháng đầu, sau đó chuyển sang điều trị duy trì. - Cần phải cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích...


Chảy máu dưới nhện – Phần 1

Chảy máu dưới nhện (Subarachnoid haemorrhage - SAH) đề cập đến chảy máu vào khoang dưới nhện, là một bệnh lý ít gặp của bệnh mạch máu não chiếm tỉ lệ 5-7% của tất cả các tai biến mạch máu não (TBMMN). -Y học thường sử dụng thuật ngữ SAH tham chiếu tới kiểu chảy máu không do chấn thương, thông thường do vỡ phình động mạch hoặc dị tật thông động tĩnh mạch (tk-CMDN do chấn thương). +Nguyên nhân Có nhiều loại, chủ yếu là do vỡ phình mạch não. Chảy máu dưới nhện có thể gặp ở...


ngộ độc các thuốc và hóa chất gây co giật trong quá trình chống độc C1-p7

Tham khảo tài liệu 'ngộ độc các thuốc và hóa chất gây co giật trong quá trình chống độc c1-p7', y tế - sức khoẻ, y học thường thức phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


The Evolution Modern Medicine, by William Oslerof

Tham khảo sách 'the evolution modern medicine, by william oslerof', y tế - sức khoẻ, y học thường thức phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Phương pháp điều trị gãy xương hàm

Phương pháp điều trị gãy xương hàm Một trong những cấp cứu mà các bệnh viện hiện nay gặp ngày càng nhiều là gãy xương hàm. Đây thường là hậu quả của các tai nạn giao thông. Từ khi mũ bảo hiểm được sử dụng rộng rãi, tỉ lệ này đã giảm xuống. Dù vậy gãy xương hàm cũng vẫn là những thách thức thực sự cho các đơn vị y tế đặc biệt là nơi không có chuyên ngành răng hàm mặt. Những di chứng lâu dài do điều trị không đúng cách không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ...


Cách trị các kiểu “say” thường gặp

Không có cơn say nào dễ chịu hơn cơn say nào. Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể phòng tránh và tạm biệt cảm giác ấy. “Từ nhỏ đến giờ, mỗi lần đi tàu xe, máy bay, tôi đều bị say. Không chỉ thế, tôi còn rất hay bị say nắng, thậm chí còn có lần say sắn khi ăn sắn mua ở xe đẩy ngoài đường. Mong chuyên mục Sức khỏe tư vấn giúp tôi thoát khỏi những cơn say này?” (Trích thư bạn đọc Trần Thị Ngọc Bích, TP.HCM) Thực tế, rất nhiều người bối rối như chị Bích, khi...


Tài liệu mới download

Sắc ký lớp mỏng
  • 25/02/2013
  • 45.110
  • 697

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Mẹ có HIV có nên cho con bú?
  • 25/10/2011
  • 35.806
  • 871
Đau ngực - Điều trị
  • 07/10/2011
  • 21.132
  • 305
Hành tươi trị rôm sảy.
  • 02/08/2013
  • 46.041
  • 762

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu