Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Khảo sát suất liều và hoạt độ phóng xạ trước khi xuất viện của bệnh nhân ung thư tuyến giáp biệt hóa điều trị bằng I-131 liều cao tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh

Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ung thư hệ nội tiết thường gặp nhất. Nghiên cứu mô tả thực tiễn tại Khoa YHHN trong suốt quá trình điều trị ung thư tuyến giáp biệt hóa tốt với I-131 liều cao trong suốt năm 2017 nên dự tính chọn mẫu nghiên cứu là toàn bộ các bệnh nhân điều trị có chỉ định I-131 liều cao.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ KHẢO SÁT SUẤT LIỀU VÀ HOẠT ĐỘ PHÓNG XẠ TRƯỚC KHI XUẤT VIỆN CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA ĐIỀU TRỊ BẰNG I-131 LIỀU CAO TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN ĐỨC VỊ1, NGUYỄN HUỲNH KHÁNH AN2, PHAN THẾ SUNG3, VÕ KHẮC NAM4, TRẦN ĐẶNG NGỌC LINH5 ĐẶT VẤN ĐỀ Quyết định số 5204/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ung thư hệ nội đoán và điều trị bằng Y học hạt nhân”, ban hành tiết thường gặp nhất[6].Theo Globocan 2012, ung thư ngày 18/12/2014: Người bệnh xuất viện khi hoạt độ giáp là loại ung thư đứng hàng thứ 8 ở cả hai giới. phóng xạ trong cơ thể còn < 30mCi tính theo lý Trong đó, hơn 90% ung thư tuyến giáp thuộc loại thuyết hoặc suất liều cách người bệnh 1 mét ≤ biệt hóa tốt[4,6]. Ngày nay, việc điều trị chủ yếu vẫn là 50μSv/h hoặc ≤ 5mR/h (Mục Điều trị ung thư tuyến phẫu thuật và điều trị bổ túc sau mổ với I-131[6]. giáp bằng 131 I: 4.4.f Người bệnh xuất viện)[1] I-131 lần đầu tiên được sử dụng vào năm Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào cho thấy 1943[3] để điều trị các bệnh lý tuyến giáp: ung thư các quy định hiện hành tại Việt Nam có đảm bảo tuyến giáp và cường giáp. Qua hơn nửa thế kỉ sử được an toàn bức xạ từ I-131 bởi một trong những dụng, con người đã có nhiều hiểu biết sâu hơn về I- nguồn nhiễm phóng xạ I-131 quan trọng nhất chính 131 và ứng dụng chúng một cách thành công nhằm là từ bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân điều trị điều trị bệnh, đồng thời những hiểu biết này cũng I-131 liều cao. Dựa vào các yếu tố trên, nhằm khảo giúp chúng ta ngăn chặn những nguy hại do bức xạ sát suất liều phóng xạ của các bệnh nhân ung thư của I-131. tuyến giáp biệt hóa được điều trị với I-131 liều cao Theo quy định hiện hành trên thế giới áp dụng chúng tôi thực hiện nghiên cứu khảo sát này. của IAEA số 63[5], bệnh nhân điều trị I-131, khi xuất PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU viện, ngưỡng liều của bệnh nhân phải dưới mức 1110MBq[2] mới được trở về cách ly tại cộng đồng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Dựa vào các tiêu chuẩn về ngưỡng liều phóng xạ Đây là nghiên cứu mô tả thực tiễn tại Khoa quốc tế, từ đầu những năm 1999- 2000, Chính phủ YHHN trong suốt quá trình điều trị ung thư tuyến Việt Nam đã ban hành thông tư liên tịch số giáp biệt hóa tốt với I-131 liều cao trong suốt năm 2237/1999/TTLT-BKHCNMT-BYT của Bộ Y Tế - Bộ 2017 nên chúng tôi dự tính chọn mẫu nghiên cứu là Khoa học Công nghệ về việc Hướng dẫn việc thực toàn bộ các bệnh nhân điều trị có chỉ định I-131 liều hiện an toàn bức xạ trong y tế, ban hành ngày cao. Tuy nhiên, trong số 841 ca điều trị, chúng tôi 28/12/1999[1] và đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần, quyết định loại 22 bệnh nhân điều trị I-131 với liều như sau: dưới 100mCi do các bệnh nhân này đa phần là các Phụ lục 6: Mức hoạt độ phóng xạ cực đại đối bệnh nhân dưới 18 tuổi và không có bệnh nhân nào với bệnh nhân điều trị dược phẩm phóng xạ được uống I-131 liều dưới 100mCi phải lưu lại theo dõi xuất viện. sau 48 giờ cách ly tại bệnh viện. Điều này giúp dân Nuclide phóng xạ Hoạt độ (MBq) số tính thống nhất hơn. Vậy trong nghiên cứu chúng tôi có 819 bệnh nhân. Iode 131 1100 1 Kỹ sư Vật lý Khoa Y Học Hạt Nhân - Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM 2 BS. BSĐT Khoa Y Học Hạt Nhân - Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM 3 BSCKII. Phó Trưởng Khoa YHHN - Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM 4 ThS.BS. Phó Trưởng Khoa Y học Hạt nhân, Điều hành Khoa - Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM 5 TS.BS. Trưởng Khoa Xạ 2 - Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM, Trưởng Bộ môn Ung thư - ĐHYD TP.HCM 284 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  2. XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ Sau khi uống I-131 liều cao, bệnh nhân được Bảng 1. Đặc điểm tổng quan lưu lại cách ly tại khoa YHHN 48 giờ, khi đã đủ thời Đặc điểm Số liệu (n (%)) gian lưu bệnh, chúng tôi thực hiện đo suất liều để tính ra hoạt độ còn trong người bệnh nhân ở thời Nam 177lượt (21.6) điểm hiện tại. Chúng tôi lưu lại thông tin bệnh nhân, Nữ 642 lượt (78.4) đọc và nghiên cứu hồ sơ bệnh án, ghi lại liều Tuổi trung bình 43.8 tuổi (từ 16-68 tuổi) I-131, các thông số về suất liều và hoạt độ và xem kết quả xạ hình toàn thân sau điều trị của bệnh nhân Liều 100mCi 435 lượt ( 53.1) sau đó thực hiện thống kê và phân tích sau. Liều 150mCi 349 lượt (42.6) Quy trình đo suất liều bệnh nhân I-131 liều cao Liều 200mCi 35 lượt (4.2) trước khi xuất viện Lưu lại 09 lượt (1.1) Nhân viên an toàn bức xạ là người kiểm tra Như vậy, trong số 819 lượt uống I-131 liều cao hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh nhân (100mCi trở lên) trong năm 2017 có số lượt uống trước khi xuất viện. Bệnh nhân đứng thẳng tại vạch I-131 liều 100mCi là lớn nhất, chiếm hơn một nửa số quy định cách máy đo 1m, hai tay xuôi xuống. Sau lượt, còn số lượt uống I-131 liều 200mCi đứng thứ khi đeo găng tay, áo chì, khẩu trang đứng sau tấm hai, thấp nhất là số lượt uống liều 200mCi. Với số chì ,nhân viên dùng máy đo liều đã được kiểm lượt bệnh nhân lưu lại rất thấp, chỉ có 9 lượt chiếm chuẩn đặt đầu dò detector cách bệnh nhân ở khoảng khoảng 1% tổng số lượt điều trị I-131 từ 100mCi. cách 1m, rà từ đầu xuống tới bàn chân, ghi lại suất liều tại vị trí có suất liều cao nhất. Các số liệu cụ thể đối với các liều I-131 100mCi, 150mCi. 200mCi Chúng tôi tính hoạt độ trong người bệnh nhân ra viện theo công thức sau: Liều 100mCi Trong số 435 lượt uống I-131 liều 100mCi, có [5] A2 = những bệnh nhân điều trị lần đầu và cũng có những bệnh nhân đã điều trị nhiều đợt, ta có: Trong đó: Bảng 2. Số liệu của các lượt uống I-131 liều 100mCi A1: Hoạt độ liều điều trị (mCi). Số Suất liều trung Hoạt độ trung bình Lần A2: Hoạt độ trong người bệnh nhân khi ra lượt bình D2 (μSv/h) còn lại A2 (MBq) viện (mCi). 1 205 16.9 345.8 D1: Suất liều đo bệnh nhân ngay sau khi 2 101 11.5 233.8 uống thuốc (μSv/h). 3 40 9.7 205.1 D2: Suất liều đo bệnh nhân chuẩn bị ra viện 4 35 8.4 173.8 (μSv/h). 5 18 8.1 163.7 Sau khi tính ra hoạt độ còn lại theo đơn vị mCi, 6 8 8.5 176.7 chúng tôi nhân hoạt độ đo được với 37 để ra được 7 8 7.6 156.0 hoạt độ I-131 theo đơn vị MBq. Hoạt độ của bệnh nhân phải nhỏ hơn 1110 MBq mới được xuất viện. Đối với liều 100mCi, chiếm hơn một nửa số Nếu hoạt độ hiện tại A2 tính ra được lớn hơn lượt uống I-131 liều cao trong năm 2017, các lượt 1110MBq, bệnh nhân được giữ lại thêm 1 ngày. Sau uống lần đầu tiên cao nhất (205 lượt) có suất liều 24 giờ, lại được tiếp tục thực hiện quá trình trên, chỉ trung bình cao nhất (16.9μSv/h) và hoạt độ trung khi nào bệnh nhân có hoạt độ nhỏ hơn 1110MBq bình cao nhất (345.8 MBq). Đồng thời với các lượt mới được xuất viện. uống các lần 2, 3, 4, 5, 6, 7 giảm dần tuy có sự tăng KẾT QUẢ - BÀN LUẬN nhẹ ở lần 6 tuy nhiên không đáng kể. Điều này cho thấy ở các bệnh nhân uống I-131 liều cao từ lần đầu Tổng quan tiên qua đến lần thứ hai trở đi có sự sụt giảm đáng Trong năm 2017, có lượt uống I-131 liều cao kể hoạt độ trung bình. (liều cao hơn 30mCi) với các đặc điểm sau: Liều 150mCi Tương tự, đối với 349 lượt uống I-131 liều 150mCi, ta có bảng sau: TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 285
  3. XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ 3 6 19.6 378.7 Bảng 3. Số liệu của các lượt uống I-131 liều 4 9 21.9 448.5 5 5 17.1 335.1 Hoạt độ trung Suất liều trung Lần Số lượt bình còn lại A2 6 3 21.7 467.6 bình D2 (μSv/h) (MBq) 7 2 22.3 451.3 1 58 33.5 687.1 Suất liều và hoạt độ của các bệnh nhân bị lưu 2 65 14.2 293.7 lại, không thể xuất viện: 3 43 12.3 256.9 Có tổng cộng 9 lượt điều trị bệnh nhân không 4 39 13.5 278.0 thể xuất viện, chiếm 1.07% số lượt điều trị liều cao 5 46 10.7 224.7 trong năm 2017. Trong đó: 6 33 13.3 279.0 Bảng 5. Số liệu của các lượt uống không thể xuất viện 7 19 9.6 195.3 Suất liều Hoạt độ trung Số lượt Liều trung bình D2 bình còn lại A2 Khi khảo sát số liệu của các lượt uống I-131 liều lưu lại (μSv/h) (MBq) 150mCi, có số lượt uống thấp hơn liều 100mCi, với số lượt uống lần thứ 2 cao nhất (65 lượt) nhưng với Liều 100mCi 2 68.5 1384.6 suất liều trung bình cao nhất (33.5μSv/h) và hoạt độ Liều 150mCi 6 94.3 1790.7 trung bình (687.1MBq) cao nhất ở các bệnh nhân Liều 200mCi 1 124 2364.9 uống lần đầu tiên. Và qua đến các lần uống sau, từ lần 2 trở đi, suất liều và hoạt độ đề giảm rất đáng kể Đối với các trường hợp lưu lại không thể xuất (687.1 MBq 293.7MBq256.9 MBq…). Tuy cũng viện, có tổng cộng 9 lượt bệnh nhân, trong đó có 6 có tăng hoạt độ trung bình ở lần 5 nhưng không trường hợp uống liều 150mCi, 1 lượt uống liều đáng kể. 200mCi đặc biệt đã đề cập ở trên, và chỉ có 2 lượt Liều 200mCi uống liều 100mCi. Trong đó, suất liều và hoạt độ trung bình cao nhất ở liều 200mCi và thấp nhất là Đối với các lượt uống I-131 liều 200mCi, ta có liều 100mCi. Từ đó, ta có thể nhận thấy các lượt bảng sau: uống từ 150mCi trở lên có khả năng phải lưu lại cao hơn các liều 100mCi. Bảng 4. Số liệu của các lượt uống I-131 liều 200mCi Tương quan giữa số lần uống và suất liều D2 Số Suất liều trung Hoạt độ trung bình còn lại sau 48 giờ Lần lượt bình D2 (μSv/h) còn lại A2 (MBq) 1 1 124 2364.9 Đối với suất liều đo được sau khi lưu bệnh nhân lại 48 giờ, ta có mối tương quan với số lần uống 2 5 34 675.6 I-131 như sau: 286 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  4. XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ Đối với biểu đồ 1, ta nhận thấy suất liều uống Bảng 6. Ví trí hấp thu I-131 và suất liều đo được lần đầu của các lượt uống I-131 liều cao xếp theo thứ tự là 200mCi lớn nhất đến liều 150mCi và cuối Vị trí hấp thu I-131 D2 (μSv/h) Số ca cùng là liều 100mCi. Qua lần uống thứ hai, suất liều Âm tính 9.8 104 các liều sụt giảm, tuy nhiên vẫn giữ theo thứ tự trên. Tuyến giáp 13.4 76 Giảm nhiều nhất phải kể đến liều 200mCi, giảm chỉ còn khoảng một phần ba so với lần đầu tiên (27.4%) Hạch trung thất 11 132 và liều 150mCi giảm còn chỉ khoảng chưa đến một Hạch cổ 20.5 8 nửa (42.3%) so với suất liều trung bình lần đầu tiên. Phổi 16 124 Còn liều 100mCi giảm thấp nhất, còn tới hai phần ba (68.0%) suất liều ban đầu. Xương 22.7 32 Tuyến giáp-Hạch trung thất Qua các lần từ lần hai trở đi, suất liều về cơ bản 14.8 61 cũng có giảm ở các liều, tuy nhiên mức độ giảm Tuyến giáp-Hạch cổ 18.4 116 không nhiều như với lần thứ hai so với lần đầu. Có Tuyến giáp-Phổi 15.2 56 sự tăng nhẹ suất liều ở các lần uống thứ sáu của Tuyến giáp-Xương 19 3 các liều, nhưng không đáng kể, về tổng quát, qua số lần uống càng nhiều, suất liều trung bình của bệnh Tuyến giáp-Hạch trung thất-Hạch cổ 31.9 11 nhân liều cao từ 100mCi vẫn giảm dần. Tuyến giáp-Hạch trung thất-Phổi 28.9 6 Điều này có thể giải thích do qua các đợt uống Tuyến giáp-Hạch cổ -Phổi 20.6 17 I-131 trước, tổng lượng tế bào hấp thu I-131 đã bị Hạch trung thất - Phổi 16.7 2 tiêu diệt bớt dẫn đến các lần uống I-131 sau lượng I-131 được hấp thu vào giảm đi, và một phần từ việc Hạch trung thất - Xương 47 1 bệnh nhân sau các đợt uống I-131 đầu tiên đã có Tương quan giữa vị trí hấp thu I-131 và suất kinh nghiệm và tuân thủ các hướng dẫn về sinh hoạt liều đo được. khi uống I-131 liều cao nhằm giúp I-131 đào thải nhanh hơn. Khi khảo sát đến tương quan giữa vị trí hấp thu I-131 và suất liều đo được, ta nhận thấy suất liều trung bình D2 gần như không phụ thuộc vào vị trí hấp thu I-131 trên người bệnh. Tuy nhiên đối với TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 287
  5. XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ những ca hấp thụ I-131 vào trung thất và xương suất nghiên cứu này còn thiếu sự đồng nhất giữa số lượt liều D2 đo được cao nhất (47μSv/h) tuy nhiên chỉ có uống các loại liều I-131 nên cần thời gian tổng hợp 1 trường hợp và cao thứ hai là các lượt uống có hấp nhiều hơn để cho ra các kết luận sâu hơn. thu vào tuyến giáp và hạch trung thất (31.9μSv/h) và TÀI LIỆU THAM KHẢO cũng đáng ghi nhận với các lượt uống I-131 có hấp thu vào phổi, hạch trung thất và tuyến giáp có hoạt 1. Nam, C.p.V., THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng độ trung bình là 28.9μSv/h cao thứ 3. Và giữa các vị dẫn việc thực hiện an toàn bức xạ trong y tế. trí khác dường như sự chênh lệch suất liều không 1999. đáng kể lắm từ 11μSv/h đến 22.7μSv/h và với 2. Beierwaltes, W.H., Consolidated Guidance những trường hợp kết quả xạ hình toàn thân âm tính About Materials Licenses. ta có suất liều đo được trung bình D2 thấp nhất (9.8μSv/h). 3. Beierwaltes, W.H. The history of the use of KẾT LUẬN radioactive iodine. in Seminars in nuclear medicine. 1979. Elsevier. Qua nghiên cứu khảo sát trên, chúng tôi nhận 4. Brady, P.a., Perez & Brady's Principles and thấy suất liều trung bình D2 và hoạt độ trung bình A2 Practice of Radiation Oncology, 2013. giảm dần khi số lần uống tăng dần.Các lượt uống I-131 liều từ 150mCi trở lên có khả năng phải lưu 5. IAEA, Safety Reports Series No. 6 3 Release of bệnh nhân lại theo dõi cao hơn các lượt uống liều Patients After Radionuclide Therapy With 100mCi.Suất liều đo được D2 phụ thuộc vào số lần contributions from the ICRP. 2009. uống thuốc và hoạt độ liều uống nhưng không phụ thuộc rõ ràng vào vị trí di căn trên người bệnh, với vị 6. NCCN, NCCN guideline thyroid cancer. 2017. trí di căn xương, phổi có suất liều cao.Tuy nhiên, do 288 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

Macrophage inhibitory cytokine 1 (MIC-1/GDF15) as a novel diagnostic serum biomarker in pancreatic ductal adenocarcinoma

Macrophage inhibitory cytokine 1 (MIC-1/GDF15) has been identified as a potential novel biomarker for detection of pancreatic cancer (PCa). However, the diagnostic value of serum MIC-1 for pancreatic ductal adenocarcinoma (PDAC), particularly for those at the early stage, and the value for treatment response monitoring have not yet been investigated.


Detection of infectious organisms in archival prostate cancer tissues

Seroepidemiological studies have reported associations between exposure to sexually transmitted organisms and prostate cancer risk. This study sought DNA evidence of candidate organisms in archival prostate cancer tissues with the aim of assessing if a subset of these cancers show any association with common genital infections.


Elevated levels of plasma D-dimer predict a worse outcome in patients with nasopharyngeal carcinoma

Hemostatic alterations occur during the development of cancer. Plasma D-dimer is a hypercoagulability and fibrinolytic system marker that is increased in patients with various solid tumours. The aim of this study was to evaluate the hemostatic status of nasopharyngeal carcinoma (NPC) patients by assessing plasma D-dimer levels to investigate its value as a prognostic marker.


A validated score estimating ambulatory status following radiotherapy of elderly patients for metastatic spinal cord compression

This study was performed to develop a validated score predicting ambulatory status after radiotherapy (RT) alone for metastatic spinal cord compression (MSCC) in elderly patients. Patients achieving 19-25 points had very poor functional outcomes and survival, and may receive single-fraction RT for pain relief.


A longitudinal study investigating quality of life and nutritional outcomes in advanced cancer patients receiving home parenteral nutrition

In cancer patients where gastrointestinal function is marginal and malnutrition significant enough to result in the requirement for intensive nutrition support, parenteral nutrition (PN) is indicated. This longitudinal study examined the quality of life (QoL) and nutritional outcomes in advanced cancer patients receiving home PN (HPN).


The radiosensitising effect of gemcitabine and its main metabolite dFdU under low oxygen conditions is in vitro not dependent on functional HIF-1 protein

Regions within solid tumours often experience oxygen deprivation, which is associated with resistance to chemotherapy and irradiation. The aim of this study was to evaluate the radiosensitising effect of gemcitabine and its main metabolite dFdU under normoxia versus hypoxia and to determine whether hypoxia-inducible factor 1 (HIF-1) is involved in the radiosensitising mechanism.


Regional variation in breast cancer treatment in the Netherlands and the role of external peer review: A cohort study comprising 63,516 women

Treatment variation is an important issue in health care provision. An external peer review programme for multidisciplinary cancer care was introduced in 1994 in the Netherlands to improve the multidisciplinary organisation of cancer care in hospitals.


Variable NF-κB pathway responses in colon cancer cells treated with chemotherapeutic drugs

The nuclear factor kappa-light-chain-enhancer of activated B cells (NF-κB) signaling pathway is activated in cells exposed to various stimuli, including those originating on the cell surface or in the nucleus. Activated NF-κB signaling is thought to enhance cell survival in response to these stimuli, which include chemotherapy and radiation.


Correlation between ERK1 and STAT3 expression and chemoresistance in patients with conventional osteosarcoma

The standard therapy regimen of conventional osteosarcoma includes neoadjuvant chemotherapy followed by surgical resection and postoperative chemotherapy. The percentage of necrotic tissue following induction chemotherapy is assessed by using the Huvos grading system, which classifies patients as “poor responders” (PR) and “good responders” (GR).


Lack of treatment-related mortality definitions in clinical trials of children, adolescents and young adults with lymphomas, solid tumors and brain tumors: A systematic review

There is a lack of standardized definition for treatment-related mortality (TRM), which represents an important endpoint in cancer. Our objective was to describe TRM definitions used in studies of children, adolescents and young adults with lymphomas, solid tumors and brain tumors.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu