Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giáo trình Điện hóa học: Phần 1

(BQ) Phần 1 giáo trình "Điện hóa học" do PGS.TS Ngô Quốc Quyền làm chủ biên trình bày hiện tượng điện ly, đó là cơ sở để khảo sát cân bằng ion trong dung dịch, một trường hợp riêng của cân bằng hóa học. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.



Đánh giá tài liệu

4.8 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Giáo trình Điện hóa học: Phần 1 Giáo trình Điện hóa học: Phần 1 Điện hóa học, Hiện tượng điện ly, Dung dịch điện ly, Sự tương tác ion, Cân bằng ion, Sự dẫn điện của dung dịch
4.8 5 377
  • 5 - Rất hữu ích 284

  • 4 - Tốt 93

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tài liệu cùng danh mục Hoá học

Vpi’s sacrificial anodes for protection against corrosion

The sacrificial anode is one of the most effective methods to protect against corrosion of metal in an electrolyte environment. Aluminium, zinc, and magnesium are the metals mostly employed for sacrificial anode cathodic protection of metals. Each sacrificial alloy anode with different closed-circuit potential and electrochemical capacity can be used in different conditions and environments. This paper presents the sacrificial anodes manufactured by the Vietnam Petroleum Institute (VPI) and their qualities. VPI’s sacrificial anode products have been certified by international accreditation organisation (DNV) to conform with DNV RP B401 standard, and the quality management system of VPI has been assessed and found to conform with the requirement of ISO 9001:2015 standard. VPI's products have been installed in petroleum structures and appreciated by customers.


Thành phần hóa học của tinh dầu từ hoa của cây hoa dẻ (Desmos Chinensis Lour.) ở Việt Nam

Chi Hoa dẻ (Desmos Lour.) theo Nguyễn Tiến Bân và Phạm Hoàng Hộ có 5 loài [1, 2], trong đó loài hoa dẻ thơm (Desmos chinensis) phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia và Việt Nam. Hoa của cây hoa dẻ thơm có mùi thơm dễ chịu có thể cất tinh dầu phục vụ cho việc sản xuất nước hoa. Đồng bào Mường ở Hòa Bình còn dùng nước sắc của hoa để chữa bệnh khó đẻ cho phụ nữ. Ở Ấn Độ người ta dùng nước sắc của rễ cây hoa dẻ thơm để chữa lỵ và chóng mặt. Ở Trung Quốc người ta dùng rễ và lá để trị đau dạ dày, đau bụng và viêm thận [3]... Tuy vậy, chưa có công trình nào ở trong nước nghiên cứu về tinh dầu cũng như thành phần hóa học của tinh dầu cây hoa dẻ thơm. Trong bài báo này chúng tôi muốn trình bầy một số kết quả về thành phần hóa học của tinh dầu cất từ hoa của hoa dẻ thơm ở Việt Nam.


Tác dụng hạn chế tăng glucose huyết của thân mướp đắng trên một số mô hình gây tăng glucose huyết thực nghiệm

Trong bài báo này, chúng tôi xin trình bày một số kết quả nghiên cứu về tác dụng hạn chế tăng glucose huyết của thân cây mướp đắng (TMÐ) trên một số mô hình gây tăng glucose thực nghiệm.


Bài giảng Hóa sinh - Chương 5: Vitamin

Vitamin là một nhóm chất hữu cơ có các tính chất lý, hoá học rất khác nhau. Tác dụng của chúng trên các cơ thể sinh vật cũng rất khác nhau nhưng đều rất cần thiết cho sự sống của sinh vật, nhất là đối với người và động vật. Bài giảng Chương 5: Vitamin tìm hiểu về Vitamin tan trong nước; Vitamin tan trong chất béo, mời các bạn cùng tham khảo bài giảng để nắm chi tiết nội dung các nội dung.


Phân tích môđun Cyclic trong đại số đường đi Leavitt

Trong bài viết này, chúng tôi mô tả cấu trúc của môđun cyclic trong đại số đường đi Leavitt sinh bởi các phần tử trong đồ thị cảm sinh.


Một số hợp chất cô lập từ cao Chloroform của thân cây mật gấu Mahonia nepalensis DC

Từ dịch chiết cao chloroform thân cây mật gấu được thu hái tại Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Việt Nam, chúng tôi đã ly trích và xác định cấu trúc 3 hợp chất: 5-hydroxymethyl-2- furfuraldehyde (1); 2,3-dimethoxyphenol (2); 2-methylpyridin-3-ol (3). Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều kết hợp so sánh với các tài liệu tham khảo. Các hợp chất này lần đầu tiên được tìm thấy trong thân cây Mahonia nepalensis DC. mọc ở Việt Nam.


Khảo sát khả năng hấp phụ phenol đỏ và Mn(II) trong nước bằng vật liệu CTAB/AL-Bentonite

Trong nghiên cứu này, vật liệu bentonite biến tính bởi tác nhân hữu cơ/vô cơ được điều chế và ứng dụng để xử lý phenol đỏ và Mn(II) trong nước. Vật liệu được điều chế bằng cách trao đổi cation vô cơ nằm giữa lớp sét bentonite bằng tác nhân cetytrimethylammonium bromide (CTAB) và polycation nhôm.


Tổng hợp bột NiO dạng cầu rỗng cấu trúc nano bằng phương pháp nhiệt phân aerosol

Trong nghiên cứu này, bột oxit niken (NiO) dạng cầu rỗng cấu trúc nano đã được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt phân aerosol (NPA) dung dịch muối niken axetat Ni(CH3COO)2 nồng độ 10 % (theo khối lượng). Ảnh hưởng của nhiệt độ tổng hợp đến đặc trưng về kích thước và hình thái của các hạt NiO cấu trúc nano được làm rõ. Bột NiO được nghiên cứu bằng phương pháp hấp phụ nitơ nhiệt độ thấp (BET), nhiễu xạ tia X, hiển vi điện tử quét (SEM) và phân tích cấp độ hạt qua tán xạ ánh sáng động.


Nghiên cứu ảnh hưởng các thông số công nghệ ép nóng đến độ truyền qua của gốm quang học Magie Florua trong phổ hồng ngoại

Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số công nghệ ép nóng (nhiệt độ, áp suất, thời gian) trong chế tạo gốm quang học Magie Florua (MgF2) đến độ truyền qua của ánh sáng hồng ngoại, từ đó xác định được bộ thông số công nghệ hợp lý để chế tạo vật liệu gốm quang học đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật ứng dụng cho chóp đầu tự dẫn tên lửa hồng ngoại. Tiến hành nghiên cứu các cơ chế và quy luật xảy ra trong quá trình ép nóng. Chế tạo các mẫu thử ở các thông số công nghệ khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của các thông số công nghệ đến chất lượng sản phẩm ép. Bằng thực nghiệm xác định được chế độ công nghệ ép nóng hợp lý (áp suất P = 250MPa; nhiệt độ T = 650o C và thời gian ép t = 30 phút) phục vụ chế tạo phôi chóp đầu tự dẫn hồng ngoại đạt các yêu cầu kỹ thuật đề ra.


Tổng hợp và tính chất của cao su Butadien dạng lỏng có hai nhóm Hydroxyl đầu-cuối mạch

Cao su butadiene có hai nhóm hydroxyl cuối mạch (HTPB)được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp gốc 1,3-butadien, sử dụng hydropeoxit làm chất khơi mào và tiến hành trong dung môi isopropanol. Các đặc trưng của HTPB được đánh giá bởi sắc ký thẩm thấu gel (GPC), phổ hồng ngoại (FT-IR) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 H-NMR, 13C-NMR. Ngoài ra, các tính chất nhiệt và nhiệt độ thủy tinh hóa (Tg) của HTPB cũng được nghiên cứu. Các kết thu được cho thấy, HTPB thu được tồn tại ở 3 dạng cấu trúc trong phân tử là cis, trans và vinyl, với khối lượng phân tử trung bình (Mw 2588,89 (g/mol) độ đa phân tán 1,44.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu