Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Dạy học khám phá theo mô hình 5E - một hướng vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở tiểu học

Bài viết trình bày việc việc mô tả sơ lược về sự ra đời và tư tưởng của lí thuyết kiến tạo trong dạy học, còn muốn giới thiệu một mô hình học tập mới, mô hình 5E, trên nền tảng của lí thuyết kiến tạo và phương pháp dạy học khám phá, phân tích các thành tố của mô hình, vai trò của giáo viên và học sinh cũng như khả năng vận dụng mô hình này trong dạy học tiểu học hiện nay.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2017, Vol. 62, Iss. 4, pp. 112-121
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

DOI: 10.18173/2354-1075.2017-0063

DẠY HỌC KHÁM PHÁ THEO MÔ HÌNH 5E - MỘT HƯỚNG VẬN DỤNG
LÍ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
Dương Giáng Thiên Hương
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Lí thuyết kiến tạo đã và đang là vấn đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước quan tâm. Với tư tưởng biến quá trình dạy học thành quá trình học tập chủ
động của người học, giúp người học không chỉ chiếm lĩnh được tri thức mà còn chiếm lĩnh
được cách thức hành động, học tập với sự hứng thú và tự giác, dạy học khám phá theo lí
thuyết kiến tạo ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong việc dạy học theo định
hướng phát triển năng lực người học. Bài báo, bên cạnh việc mô tả sơ lược về sự ra đời và
tư tưởng của lí thuyết kiến tạo trong dạy học, còn muốn giới thiệu một mô hình học tập
mới, mô hình 5E, trên nền tảng của lí thuyết kiến tạo và phương pháp dạy học khám phá,
phân tích các thành tố của mô hình, vai trò của giáo viên và học sinh cũng như khả năng
vận dụng mô hình này trong dạy học tiểu học hiện nay.
Từ khóa: Lí thuyết kiến tạo, dạy học khám phá, mô hình 5E, tiểu học.

1.

Mở đầu

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu với sự tham gia của công nghệ 4.0, các lĩnh vực của đời
sống xã hội như chính trị, văn hóa, giáo dục... cũng có những thay đổi sâu rộng. Thực tế hiện nay
cho thấy, xã hội rất cần những con người có năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
cuộc sống, có kiến thức và có tư duy chủ động đồng thời có những kĩ năng cần thiết để thích ứng
được với bối cảnh có nhiều biến động. Điều này đòi hỏi quá trình giáo dục phải thay đổi. Một trong
những lí thuyết dạy học, phương pháp dạy học đáp ứng được mục tiêu này, đó là lí thuyết kiến tạo
và dạy học khám phá. Nhiều tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này theo nhiều hướng khác
nhau, chẳng hạn nghiên cứu các điểm mạnh và điểm yếu của dạy học khám phá có thể kể đến G.
Petty, A. Collin, W. Charles [1, 2, 7]..; nghiên cứu các dạng khám phá hay các mô hình dạy học
khám phá có thể kể đến H. Banchi, R.Bell [7]..; nghiên cứu sự vận dụng phương pháp dạy học này
cho các đối tượng khác nhau, hay việc vận dụng dạy học khám phá với sự hỗ trợ của các phương
tiện dạy học hiện đại có thể kể đến A. Collin, D. Koert [2]. . .
Trên nền tảng của lí thuyết kiến tạo, khởi điểm từ việc xây dựng mô hình học tập các môn
Khoa học theo phương pháp khám phá, mô hình 5E ra đời. Mô hình 5E như hiện nay đang sử
dụng xuất hiện đầu tiên là trong báo cáo của Rodger W. Bybee (2006)[8, 9], dựa trên tư tưởng của
Johann Friedrich Herbart, một nhà triết học có ảnh hưởng lớn đến giáo dục Mỹ thế kỉ XX. Ông cho
rằng, mục đích của giáo dục là phát triển nhân cách, và để phát triển nhân cách phải thông qua sự
hứng thú và hiểu biết sâu sắc các khái niệm. John Deway, người xuất phát là một giáo viên giảng
Ngày nhận bài: 18/2/2017. Ngày nhận đăng: 28/4/2017.
Liên hệ: Dương Giáng Thiên Hương, e-mail: huongdgt@hnue.edu.vn

112

Dạy học khám phá theo mô hình 5E - một hướng vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở tiểu học

dạy khoa học cũng góp phần không nhỏ vào việc xây dựng mô hình 5E. Từ những năm đầu của
thế kỉ XX, J. Deway cũng đã chỉ ra việc lĩnh hội tri thức của người học được phản ánh thông qua
suy nghĩ của chính họ. Tổng hợp từ hai tư tưởng này, xuất phát điểm từ mô hình “Phát triển khoa
học và sức khỏe lên một mức độ mới” của Chương trình nghiên cứu khoa học sinh học (BSCS)
những năm 1980, mô hình 5E được xây dựng và hoàn thiện như hiện nay. Ở Việt Nam, bên cạnh
những nghiên cứu chuyên sâu về lí thuyết kiến tạo hay dạy học khám phá, tìm tòi, những nghiên
cứu về mô hình 5E còn khá mới mẻ, có chăng chỉ dừng lại ở những tài liệu tập huấn giáo viên, bài
viết đăng tạp chí hay Kỉ yếu Hội thảo như Phạm Thị Bích Đào, Vũ Thị Minh Nguyệt với bài “Vận
dụng mô hình 5E thiết kế chủ đề tích hợp liên môn trong tài liệu học tập môn Khoa học tự nhiên
nhằm phát triển năng lực học sinh” [3]...

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Sơ lược về thuyết kiến tạo trong dạy học (Constructivist Theory)

2.1.1. Thế nào là lí thuyết kiến tạo trong dạy học?
Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” có nghĩa là “xây dựng nên”. Học tập theo thuyết kiến
tạo (constructivism) là một chiến lược học tập được xây dựng dựa trên vốn tri thức có trước đó
của học sinh bao gồm các kiến thức, kĩ năng và ý tưởng. Về cơ bản, lí thuyết kiến tạo là một lí
thuyết dựa trên quan sát và nghiên cứu khoa học nhằm trả lời cho câu hỏi: Con người học như thế
nào? Theo lí thuyết này, con người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua
trải nghiệm và phản ánh. Khi chúng ta đối mặt với một điều gì mới mẻ, chúng ta phải điều ứng nó
với những ý tưởng và kinh nghiệm trước đó, làm thay đổi những điều chúng ta đã biết hoặc khẳng
định lại nó. Trong bất cứ trường hợp nào, người học đều thực sự là những nhà kiến tạo tri thức cho
chính bản thân vì để làm điều này, họ phải đưa ra những nghi vấn, tò mò khoa học, khám phá và
đánh giá cái mà họ đã biết.
Lí thuyết kiến tạo đã được xây dựng và tổng hợp từ những lí thuyết học tập có từ trước đó,
tiêu biểu có thể kể đến các tác giả như Lev Vygotsky, Jean Piaget, Jerome Bruner [6]... Từ những
năm 90 của thế kỉ XX, nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu lí thuyết này dưới các phạm vi và
góc độ khác nhau, chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế của lí thuyết học tập này. Tác giả Begg
Andy (1995) đã cho rằng: Lí thuyết kiến tạo được đề cập đến nhiều trong triết học và giáo dục bởi
các lí thuyết gia và nhiều người cho rằng đó là lí thuyết tốt nhất hiện có về việc học.Tuy nhiên, nó
chủ yếu đưa ra những tư tưởng chủ đạo giúp con người nắm bắt được ý nghĩa của việc học và từ
đó điều áp dụng đã và đang được hình thành thay vì đưa ra những hướng dẫn cụ thể, các cách thức
cụ thể để GV tổ chức lớp học. Khẳng định vai trò của việc nghiên cứu thuyết kiến tạo đối với việc
học, Brandt (1997), M. Briner (1999) cũng đưa ra quan điểm học tập là mỗi cá nhân tự xây dựng
nên tri thức cho riêng mình, không chỉ đơn thuần tiếp nhận tri thức từ người khác bằng cách điều
khiển những ý tưởng và tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng
vào những tình huống mới, hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được
với những tri thức đã có. Bên cạnh đó, Donald P.Kauchak và Paul D.Eggen cũng cho rằng: lí thuyết
kiến tạo là một quan điểm học tập trong đó người học học tập thông qua trải nghiệm sự tích lũy
những kiến thức có ý nghĩa với bản thân họ hơn là tiếp thu những kiến thức có sẵn có, đó là một
nhân tố quan trọng trong sự dịch chuyển từ dạy học mà người dạy đóng vai trò trung tâm sang coi
người học là yếu tố trung tâm... Học tập dựa trên lí thuyết kiến tạo đặt người học vào vai trò chủ
động, giúp họ xây dựng kiến thức mới từ những kiến thức mà người học sẵn có và áp dụng những
kiến thức đó vào tình huống thực tế. Kinh nghiệm trực tiếp, sự tương tác giữa người dạy và người
học, giữa người học với người học là yếu tố quan trọng của dạy học theo lí thuyết kiến tạo. Ở trong
nước, một số tác giả cũng bàn về việc học tập theo lí thuyết kiến tạo như Nguyễn Bá Kim: “Học
113

Dương Giáng Thiên Hương

tập là quá trình người học xây dựng nên kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường
sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng”; tác giả Phan Gia Đức lại cho
rằng: “Kiến tạo là lí thuyết dạy học mà nền tảng của nó là dựa trên kiến thức đã có của người học
để xây dựng kiến thức mới sao cho kiến thức mới phải phù hợp trong tổng thể cái đã có”; tác giả
Phó Đức Hòa cũng nhận định, “học tập kiến tạo dựa trên sự tham gia của người học vào việc giải
quyết vấn đề và những suy nghĩ có tính phê phán trong hoạt động, mà người học thấy phù hợp và
hứng thú”... [4].
Như vậy, sự phát triển của lí thuyết kiến tạo qua các tác giả đi từ cái chung, cái phổ biến
đến cái cụ thể; đi từ cái chưa định hình đến cái định hình. Lí thuyết kiến tạo chủ trương dạy học
dựa trên tính tích cực của nhận thức, động cơ học tập, khát vọng học tập và khát vọng hiểu biết
của người học. Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy học nhưng tất cả
đều nhấn mạnh vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu
nhận những tri thức cho bản thân. Nói cụ thể, nguyên lí cơ bản của thuyết kiến tạo là người học
phát triển riêng kiến thức của họ và phát triển kiến thức có ý nghĩa đối với họ, xây dựng những
hiểu biết mới cho bản thân bằng cách tạo kết nối giữa cái đã biết và cái cần khám phá mà không
tiếp thu thụ động qua sách vở hay GV.

2.1.2. Các dạng kiến tạo (Constructivisms)
Theo quan điểm Paul Ernest, có hai loại kiến tạo trong dạy học: kiến tạo cơ bản (Radical
Constructivism) và kiến tạo xã hội (Social Constructivism).
"Kiến tạo cơ bản" còn có một tên gọi khác là kiến tạo nội sinh được Piaget đặt nền móng,
ông mô tả rằng tri thức là sản phẩm của hoạt động tạo ra bởi chủ thể thông qua trải nghiệm cá
nhân. Tri thức mới bao giờ cũng được hình thành từ tri thức cũ. Mô hình mới (tri thức mới) sẽ được
xây dựng dựa trên mô hình cũ và các vật liệu cũ đã có sẵn (tri thức cũ) theo chu trình:

Hình 2.1. Sơ đồ quá trình kiến tạo kiến thức
Nerida F. và M.A. Clementes cũng cho rằng: “Tri thức được kiến tạo một cách cá nhân,
thông qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân”. Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Ernst
von Glaserfeld: “Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức, không phải là thứ
sản phẩm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được
truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cự nhận thức hoặc giao tiếp”.
Như vậy, có thể nói kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận
thức và cách thức cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân. Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình
chuyển hóa bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức, coi trọng thế giới quan khoa học của
cá nhân. Sự nhấn mạnh tới kiến tạo cơ bản trong dạy học là sự nhấn mạnh tới vai trò chủ động của
người học, nhưng cũng nhấn mạnh tới sự cô lập về tổ chức nhận thức của người học.
114

Dạy học khám phá theo mô hình 5E - một hướng vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở tiểu học

“Kiến tạo xã hội” xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội.
Nhân cách cùng những kiến thức mà người học tìm kiếm được là thông qua sự tương tác giữa họ
và những người khác. Kiến tạo xã hội giúp chủ thể nhận thức trong môi trường xã hội và không
nhấn mạnh một cách tiềm năng tư duy mang tính cá nhân. Nói cách khác, kiến tạo xã hội là quan
điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các
yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức. Ưu điểm của hình thức kiến tạo này là giúp người học hình
thành năng lực kiến tạo học tập trong hoàn cảnh thực tiễn, có giá trị đối với việc vận dụng kiến
thức trong thực tiễn. Vì thế, cần phải mở rộng các hình thức hoạt động xã hội, đa dạng hóa các
hình thức tổ chức dạy học và hoạt động xã hội ở nhà trường.

2.2.

Dạy học khám phá theo mô hình 5E (The 5E of inquiry - based learning
instructional model)

2.2.1. Dạy học khám phá
Từ khi bắt đầu, người ta nghiên cứu dạy học khám phá là một kiểu dạy học đặc thù, phù hợp
với việc dạy học các môn Khoa học, trong đó đây được hiểu là một phương pháp dạy học khoa học
mà HS học tập thông qua việc sử dụng các phương pháp, thái độ và kĩ năng tương tự như các nhà
khoa học khi thực hiện nghiên cứu khoa học. Trong quá trình phát triển, với định hướng chú trọng
phát triển năng lực người học, giúp người học không những chiếm lĩnh được tri thức mới mà còn
chiếm lĩnh được năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và phản biện, kĩ năng
ra quyết định, kĩ năng biểu đạt và sự sáng tạo, dạy học khám phá ngày càng được nghiên cứu phát
triển và mở rộng tới nhiều cấp học, ở nhiều phạm vi môn học. Dạy học khám phá đòi hỏi người
dạy phải đầu tư công sức rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của HS. Hoạt động của
người thầy bao gồm định hướng phát triển tư duy cho HS, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm
bảo tính vừa sức với HS; tổ chức HS trao đổi theo nhóm trên lớp; hướng dẫn sử dụng phương tiện
trực quan hỗ trợ cần thiết và tạo ra môi trường học tập để HS giải quyết vấn đề [5].
Trong dạy học khám phá, HS tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức:
từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất
xã hội của cộng đồng lớp học; GV nhận xét ý kiến của HS và chốt lại ý chính để HS làm cơ sở tự
kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân. Hoạt động khám phá tri thức mới là một quá trình
nhận thức độc đáo của người học, họ có khả năng tự điều chính nhận thức góp phần tăng cường
tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học. Đó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản
thân người học. Vậy bản chất của quá trình dạy học khám phá là: sự tìm kiếm, khám phá tri thức
khoa học và chuẩn mực xã hội.
Có 5 kiểu khám phá, đó là:
- Khám phá quy nạp (Inductive Inquiry)
- Khám phá diễn dịch (Deductive Inquiry)
- Dạy học tự phát hiện (Discovery Learning)
- Giải quyết vấn đề (Problem Solving)
- Dạy học dự án (Project based - learning

2.2.2. Mô hình 5E
Mô hình 5E thực chất là mô hình dạy học, là một mẫu hướng dẫn học tập khám phá dựa
trên thuyết kiến tạo. Một mô hình dạy học khám phá 5E gồm 5 pha: Engage (kích thích động cơ
học tập), Explore (khám phá), Explain (giải thích), Elaborate (phát biểu), Evaluation (đánh giá).
Ở mỗi pha, HS được tham gia trực tiếp vào các quá trình hoạt động, được tư duy, hành động, được
rèn luyện các kĩ năng từ đơn giản nhất như nghe, nói, đọc, viết, làm việc nhóm đến các kĩ năng
115

Dương Giáng Thiên Hương

như quan sát có mục đích, tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, các kĩ năng thực hành, thí nghiệm,
đánh giá và tự đánh giá...Các kĩ năng này là cơ sở để hình thành và phát triển các năng lực như
giao tiếp, hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, giải
quyết vấn đề [6, 10, 11]...

Hình 3.1. Mô hình dạy học 5E (5E instructional model)
Pha 1: Engage (kích thích động cơ học tập)
GV sẽ tiếp cận kiến thức sẵn có của người học và giúp họ tham gia hình thành khái niệm
mới thông qua việc sử dụng các hoạt động ngắn làm tăng tính tò mò và gợi ra những kiến thức có
sẵn. Hoạt động này nên tạo được sự kết nối giữa kinh nghiệm học tập trong quá khứ và hiện tại, để
khợi gợi các khái niệm đã học trước đó và tổ chức hệ thống tư duy của HS đối với kết quả của các
hoạt động hiện tại.
Pha 2: Explore (khám phá)
Từ việc kết nối giữa những kiến thức, kinh nghiệm đã có với những điều cần khám phá
(nhiệm vụ học tập), những tình huống có vấn đề xuất hiện. Lúc này, người học có cơ hội tham gia
trực tiếp vào các tình huống, làm việc trực tiếp với các thiết bị, dụng cụ, thực hành các hoạt động
dưới sự hướng dẫn của GV để thu thập thông tin. Trong pha này, người học sẽ được khám phá nội
dung học tập một cách sâu sắc thông qua việc giải quyết vấn đề, khám phá khoa học, mô phỏng
hoặc tiến hành các hoạt động thí nghiệm, thực hành. Các hoạt động giúp người học sử dụng kiến
thức sẵn có để tạo ra các ý tưởng khám phá mới dựa trên các câu hỏi định hướng và điều chỉnh
hành động cho người học của GV thay vì các đáp án. Với cách thức này, người học sẽ tổng hợp
những kiến thức học được thông qua quá trình giải quyết vấn đề và tư duy phản biện.
Pha 3: Explain (giải thích)
Giai đoạn giải thích tập trung sự chú ý của HS vào một nội dung cụ thể trong quá trình
tham gia hoạt động học tập, giúp thăm dò kinh nghiệm của các em và tạo ra các cơ hội để các em
chứng minh sự hiểu biết khái niệm của mình nhờ các kĩ năng học tập. Giai đoạn này cũng tạo cơ
hội cho giáo viên trực tiếp giới thiệu một khái niệm, quy trình hoặc các kĩ năng thực hành. Người
học thì giải thích sự hiểu biết của họ về khái niệm khoa học còn người dạy thì giải thích để hướng
dẫn người học hướng tới một sự hiểu biết sâu sắc hơn, đây là một phần quan trọng của giai đoạn
này. Từ chỗ người học bắt đầu hình thành những hiểu biết khái quát sau quá trình điều tra sơ bộ,
thu thập thông tin (pha 1 và 2), quá trình giao lưu, giao tiếp xuất hiện giữa người học - người học,
116

Tài liệu cùng danh mục Giáo dục học

Nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong bối cảnh hội nhập

Bài viết Nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong bối cảnh hội nhập trình bày đánh giá nhu cầu học tập ngoại ngữ là bước tiên quyết nhằm giúp đưa ra các quyết định liên quan đến việc xác định mục tiêu, hay nội dung chương trình giảng dạy, giáo trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy và đánh giá,.... Mời các bạn cùng tham khảo.


Ebook Cẩm nang xây dựng và thực tiễn kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt: Phần 2 - TS. Phạm Minh Mục, TS. Vương Hồng Tâm, ThS. Nguyễn Thị Kim Thoa

Ebook Cẩm nang xây dựng và thực tiễn kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt: Phần 2 minh họa trình bày một số kế hoạch giáo dục cá nhân đã được xây dựng và thực hiện trên đối tượng học sinh cụ thể. Với các bạn chuyên ngành Giáo dục đặc biệt thì đây là tài liệu hữu ích.


Module Tiểu học 12: Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở tiểu học - Trần Thị Hiền Lương

Module Tiểu học 12: Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở tiểu học trình bày về chương trình tiểu học và quan điểm dạy học tích hợp; các nội dung được tích hợp giáo dục trong các môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học; thực trạng dạy học tích hợp các nội dung ở tiểu học; kĩ năng lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với việc dạy học tích hợp,...


Module MN 14: Phương pháp tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội - Nguyễn Thị Quyên, Lương Thị Bình

Module Mầm non 14: Phương pháp tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội trang bị cho giáo viên mầm non một số kiến thức và kĩ năng tư vấn về giáo dục mầm non cho các tổ chức xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục.


Dạy học tương tác ảo trong lớp học Kỹ thuật Robot

Bài viết phân tích giảng dạy tương tác cho thấy sự khác biệt và sự bao hàm của các phương pháp giảng dạy tương tác trong tất cả các phương pháp giảng dạy. Vai trò và ý nghĩa của phương pháp giảng dạy này trong việc giảng dạy người máy nói chung và điện tử nói riêng.


Sử dụng trò chơi học tập nhằm rèn luyện thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động “khám phá môi trường xung quanh”

Bài viết Sử dụng trò chơi học tập nhằm rèn luyện thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trong hoạt động “khám phá môi trường xung quanh” trình bày: Phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là một trong những nội dung quan trọng của Giáo dục mầm non. Hoạt động cho trẻ khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non thực hiện nhiệm vụ phát triển nhận thức cho trẻ,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Bài giảng Xây dựng đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực

Bài giảng "Xây dựng đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực" trình bày về quy trình, 5 bước để kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng để nắm bắt thông tin chi tiết.


Bẩy bước viết các bài tập: Phát triển chủ đề

Nếu bạn không được giao một chủ đề, hãy xác định một chủ đề bạn thích. Tham khảo sách, bài giảng hay một sở thích có liên quan đến chủ đề bạn mong muốn tìm hiểu. Đưa ra chủ đề của bạn Khẳng định luận điểm, chủ đề, hoặc mục tiêu trong một hoặc tối đa là hai câu. Nếu chủ đề đã rõ ràng hoặc bạn đã xác định được chủ đề của mình: Ghi ra ý tưởng hay từ chính bạn cho là quan trọng Chỉ sử dụng các cụm từ ngắn hoặc từ đơn cho phần này. ...


Tài liệu hướng dẫn chăm sóc và nuôi dạy trẻ vùng lũ (Tài liệu dành cho cô nuôi dạy trẻ vùng lũ)

Tài liệu hướng dẫn chăm sóc và nuôi dạy trẻ vùng lũ (Tài liệu dành cho cô nuôi dạy trẻ vùng lũ) cung cấp cho các cô nuôi dạy trẻ trong vùng lũ những kiến thức cơ bản về lũ lụt, hiểm họa và các biện pháp tự vệ cũng như những việc nên làm trước, trong và sau lũ tại trường học. Đồng thời, quyển sổ tay này cũng đưa ra những phương pháp giúp nhận biết, phòng tránh và điều trị một số bệnh, tai nạn thường xảy ra trong mùa lũ;...


Thực trạng quản lí một số vấn đề trong công tác giảng dạy tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau

Bài viết đề cập thực trạng quản lí công tác giảng dạy tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau về những nội dung như: quản lí kế hoạch, chương trình dạy học, quản lí việc phân công giảng dạy, quản lí việc thực hiện giảng dạy của giảng viên. Nhìn chung, thực trạng công tác quản lí các nội dung trên chỉ ở mức trung bình. Để nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới, lãnh đạo trường cần có những giải pháp thiết thực hơn.


Tài liệu mới download

Cây son thiên sứ - Tập 9
  • 24/04/2013
  • 85.652
  • 977
tài liệu về diode
  • 05/01/2011
  • 81.055
  • 997

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY
  • 19/06/2012
  • 37.499
  • 249

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu