Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Đánh giá khả năng đáp ứng một số kịch bản lũ của hệ thống đê bao, bờ bao vùng lũ ĐBSCL

Hệ thống đê bao, bờ bao đã, đang đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống của hàng triệu dân cư vùng lũ ĐBSCL. Tuy nhiên, hệ thống đê bao, bờ bao được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, với công nghệ đắp đê chủ yếu là thủ công và sự hỗ trợ của máy đào gầu dây không đầm nén, vật liệu đắp đê là vật liệu địa phương, đất mềm yếu.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG MỘT SỐ KỊCH BẢN LŨ CỦA HỆ THỐNG ĐÊ BAO, BỜ BAO VÙNG LŨ ĐBSCL Lê Mạnh Hùng, Lê Thị Vân Anh Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam Nguyễn Huy Khôi Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam Tóm tắt: Hệ thống đê bao, bờ bao đã, đang đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống của hàng triệu dân cư vùng lũ ĐBSCL. Tuy nhiên, hệ thống đê bao, bờ bao được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, với công nghệ đắp đê chủ yếu là thủ công và sự hỗ trợ của máy đào gầu dây không đầm nén, vật liệu đắp đê là vật liệu địa phương, đất mềm yếu. Chính vì vậy, sau nhiều năm làm việc trong điều kiện nắng, mưa, lũ nhiều đoạn đê đã xuống cấp, bị lún, sụt, sạt lở…, không còn đủ khả năng đảm nhiệm, mục tiêu và nhiệm vụ thiết kế. Bên cạnh đó, lũ ĐBSCL trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi, do vậy, để đánh giá được khả năng đáp ứng của hệ thống đê bao, bờ bao trước những kịch bản về lũ, trong nghiên cứu này đã tiến hành mô phỏng ba kịch bản lũ (cao trình mực nước đỉnh lũ 4,0 m; 4,5 m và 5,09 m tại Tân Châu) bằng mô hình toán thủy lực VRSAP trên nền bản đồ địa hình, thể hiện cao trình đỉnh đê bao vùng lũ. Từ khóa: Hệ thống đê bao, bờ bao, lũ ĐBSCL, mô hình toán thủy lực, kịch bản về lũ Summary: The system of dikes and embankments has been contributing greatly to economic development, and also supporting to stabilize the lives of millions of inhabitants in the Mekong Delta. However, the system of dykes and embankments was built from the late 20th century and early 21st century, with handmade embankment technology and non-compacting bucket digger. Materials for embankment were local materials and soft soil. Therefore, after many years of working in the conditions of sunshine, rain, floods, many sections of dykes have deteriorated, subsided, collapsed, and so on. That’s no longer capable of undertaking, objectives and design tasks. Besides, floods in the Mekong Delta in recent years have had many changes, so to assess the ability of the dyke system and surrounding dikes to meet flood scenarios, this study has conducted tissue simulate three flood scenarios (flood peak water level of 4.0 m, 4.5 m and 5.09 m in Tan Chau station) by VRSAP hydraulic model on topographic map, showing the elevation of the dike crest flood zone. Keyword: System of dykes and embankments, flood in the Mekong Delta, hydraulic mathematical model, flood scenario. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ* ha ở thượng nguồn sông Cửu Long bị ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long là bộ phận của kéo dài từ 4 đến 6 tháng; khoảng 1,6 triệu ha châu thổ sông Mê Kông có diện tích tự nhiên bị nhiễm chua phèn; 1,7 triệu ha bị xâm nhập khoảng 40,6 nghìn km², là một vùng đất rộng mặn vào mùa khô. Hệ thống sông rạch vùng lớn, đầy tiềm năng, nhưng trước đây có nhiều đồng bằng trải qua mấy chục năm chiến tranh nhân tố hạn chế sự phát triển. Khoảng 1,4 triệu không được nạo vét, đã bị bồi lắng nghiêm trọng…, vào những năm sau khi thống nhất đất nước 1975, đa phần diện tích ĐBSCL được Ngày nhận bài: 04/6/2019 canh tác theo hình thức quảng canh lúa mùa Ngày thông qua phản biện: 08/7/2019 nổi, một vụ, năng suất thấp chỉ từ 1 - 2 tấn/ha. Ngày duyệt đăng: 19/7/2019 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019 1
  2. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Vào năm 1976, tổng sản lượng lương thực 50% sản lượng gạo cho quốc gia và hơn 90% toàn vùng chỉ đạt 4,5 triệu tấn [2]. sản lượng gạo xuất khẩu, là vùng trọng điểm sản xuất thủy sản, hàng năm cung cấp hơn Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, khai thác lợi 52% sản lượng thủy sản của cả nước, là vùng thế từ thiên nhiên để phát triển, người dân sản xuất trái cây hàng hóa lớn nhất nước, Nam Bộ đã có nhiều sáng kiến nảy sinh từ chiếm hơn 43% diện tích, 60% sản lượng [5]. thực tế sản xuất, trong đó sáng kiến về xây Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, năm 2018 dựng đê bao, bờ bao bảo vệ vụ lúa Hè Thu vào vùng ĐBSCL gieo sạ 4.114.740 ha, tổng sản những năm lũ sớm là rất đáng được tôn vinh, lượng thu hoạch đạt tới 24.673.000 tấn [1]. ghi nhận. Lũ năm 1978 về sớm và lớn, ngày 22/8 nước lũ tại Tân Châu đạt 3,94 m, nhấn Mặc dù hệ thống đê bao, bờ bao đóng vai trò chìm tất cả diện tích lúa Hè – Thu trong vùng. vô cùng quan trọng như vậy, nhưng hiện đang Riêng khoảng vài chục ha của ấp Hoà Thượng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn trước lũ. Lý xã Kiến An, huyện Chợ Mới (An Giang) vẫn do, nhiều đoạn đê bao đã bị lún, xuống cấp vì an toàn nhờ người dân đắp bờ bao bảo vệ. Từ được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ thực tế thành công đó của người dân, các nhà 20, với kỹ thuật thi công bằng thủ công không khoa học đã tiến hành nghiên cứu quy luật lũ đảm bảo chất lượng, vật liệu xây dựng đê chủ sông Cửu Long, phân tích cao trình đồng yếu là đất yếu. Bên cạnh đó là sự thay đổi chế ruộng, hệ thống kênh cấp I và cấp II sẵn có độ động lực, lũ sông Mê Kong do tình trạng v.v… từ đó đề xuất được mô hình đê bao, bờ biến đổi khí hậu, do xây dựng nhiều công trình bao, điều kiện áp dụng cho từng vùng với khả thủy lợi, thủy điện… phía thượng nguồn lưu năng bảo vệ sản xuất vụ Hè - Thu. Sau khi thu vực sông Mê Kong. Thực tế những năm vừa hoạch lúa Hè Thu cho nước lũ vào đồng ruộng qua, khi lũ lớn đoạn đê nào xung yếu, cao trình để lấy phù sa, vệ sinh đồng ruộng, rửa chua đỉnh đê thấp hơn mực nước lũ, dòng chảy lũ phèn và khai thác thủy sản. Cuối mùa lũ, chủ tràn gây vỡ đê. (Lũ lớn năm 2000, 2011 ... động bơm vợi để sản xuất vụ Đông Xuân. nhiều đoạn đê bao bị vỡ, bị đe dọa. Lũ năm Sáng kiến của người dân Nam Bộ, không chỉ 2018, với cao trình đỉnh lũ tại Tân Châu chỉ đóng góp kinh nghiệm chống lũ, mà còn khai 4,09 m, cao hơn báo động III, 0,09 m nhưng phóng cho bài toán nan giải về phát triển giao tối ngày 12/9/2018 một đoạn đê bao dài 25 m, thông nông thôn bằng “chiếc chìa khóa vạn thuộc xã Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười, tỉnh năng”: Nhà nước và nhân dân cùng làm. Đồng Tháp bị vỡ, nhấn chìm 148 ha lúa sắp thu hoạch trong nước). Từ sau 3 năm lũ lớn 2000, 2001 và năm 2002 là những năm lũ nhỏ và trung bình (trừ năm Để phát hiện ra những đoạn đê bao xung yếu, 2011), điều kiện thiên nhiên thuận lợi, diện cao trình thấp có nguy cơ mất an toàn, làm cơ sở tích lúa Thu Đông, diện tích cây ăn trái, diện cho việc cũng cố, nâng cấp trước mùa lũ tới. Nội tích nuôi trồng thủy sản đều phát triển mạnh. dung bài báo đã tiến hành mô phỏng mực nước Vì vậy, để bảo vệ sản xuất hệ thống đê bao lũ ứng với từng kịch bản lũ khác nhau bằng mô kiểm soát lũ cả năm cũng được hình thành và hình toán, trên nền bản đồ số cao trình đỉnh hệ phát triển không chỉ ở vùng ngập nông mà còn thống đê bao vùng lũ ĐBSCL. phát triển ở cả những vùng ngập sâu. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Năm tháng trôi qua, kinh nghiệm từ mô hình 2.1. Thu thập và phân tích số liệu đê bao, bờ bao kiểm soát lũ tháng 8 và kiểm soát lũ cả năm đã được nhân rộng và từng Thu thập số liệu quá trình phát triển đê bao, ô bước phát triển, góp phần không nhỏ vào việc bao vùng lũ ĐBSCL, dựa vào số liệu báo cáo đưa ĐBSCL từ một vùng đất kém phát triển, từ các địa phương vùng lũ, gắn liền với diện trở thành vựa lúa của cả nước, cung cấp hơn tích reo xạ lúa vụ Thu Đông hàng năm. 2 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019
  3. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Giai đoạn trước năm 2000, vùng ngập lũ phát triển mạnh, không chỉ ở vùng ngập nông ĐBSCL đã hình thành hai dạng đê bao: kiểm mà còn phát triển ở cả vùng ngập sâu. Tổng soát lũ tháng 8 và đê bao kiểm soát lũ cả năm. chiều dài đê bao chống lũ cả năm vào khoảng Đê bao kiểm soát lũ tháng 8 phổ biến trên toàn 21.000 km, đê bao chống lũ tháng 8 vào vùng ngập lũ, đê bao kiểm soát lũ cả năm khoảng 17.000 km, với trên 4.500 ô bao có trong giai đoạn này chỉ tập trung bao các cụm quy mô vài trăm đến cả ngàn hecta [4]. dân cư, khu vực Thị xã, Thị trấn, Thị tứ. Nhìn Giai đoạn 2006 - 2010, sản xuất lúa Thu Đông chung diện tích được bao đê chống lũ cả năm có biến động lớn, đặc biệt diện tích đã giảm trong giai đoạn này rất ít. mạnh từ 380.110 ha năm 2005 xuống chỉ còn Giai đoạn từ năm 2000 - 2005, diện tích lúa 232.316 ha vào năm 2007. Vào thời gian này Thu Đông tăng liên tục theo chủ trương mở các ô bao, đê bao kiểm soát lũ ít biến động về rộng quy mô sản xuất của các tỉnh. Tốc độ số lượng, nhưng được củng cố một số đoạn tăng diện tích trung bình 5 năm đạt xung yếu. Giai đoạn 2011 đến nay (2018), diện 9,71%/năm. Trong 3 năm 2001 – 2003, diện tích lúa Thu Đông lại phát triển mạnh, và đồng tích lúa Thu Đông tăng với tốc độ cao, trên hành với nó là việc nâng cấp, củng cố nhiều 15,38%/năm, cao nhất là năm 2002 đạt vùng đê bao chống lũ tháng 8, thành đê bao 17,33%. Đến các năm 2004 và 2005, tốc độ chống lũ cả năm, tại các tỉnh Long An, Đồng tăng đã chậm lại, chỉ đạt khoảng 10 - 13%. Tháp và An Giang, để tránh tình trạng phải tu Vào giai đoạn này các tỉnh phát triển diện tích bổ sau lũ hàng năm rất tốn kém, do lũ chính vụ Thu Đông nhanh nhất là tỉnh An Giang từ vụ chảy tràn trên đỉnh đê bao tháng thấp làm 21.009 ha tăng lên 83.385 ha; tỉnh Hậu Giang vỡ đê, gây sạt lở. Hình 1 dưới đây thể hiện từ 38.301 tăng lên 65.706 ha; tỉnh Đồng Tháp diện tích vùng bao đê chống lũ tháng 8 màu từ 18.844 ha tăng lên 78.170 ha. Song song xanh và diện tích vùng bao đê chống lũ cả với việc phát triển sản xuất lúa Thu Đông thì năm màu xám, vùng lũ ĐBSCL vào các năm diện tích các ô bao kiểm soát lũ cả năm cũng 2011 và 2016. Nguồn: Viện KHTL Miền Nam Hình 1: Thể hiện diện tích vùng bao đê chống lũ tháng 8 và cả năm vùng lũ ĐBSCL năm 2011 và năm 2016 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019 3
  4. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Thu thập tài liệu số lượng đê bao, cao trình đỉnh vụ thường xuyên Cập nhật thông tin hệ thống đê đê bao được kế thừa kết quả thực hiện dự án Điều bao vùng lũ ĐBSCL của Viện Quy hoạch Thủy tra hiện trạng hệ thống đê bao bờ bao và các công lợi miền Nam thực hiện năm 2018 [7]. Bảng 1 và trình dưới đê bao vùng ngập lũ ĐBSCL, do Viện 2 sau đây là những thông tin đã cập nhật tại các Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, 11/2011 huyện thị thuộc hai tỉnh điển hình An Giang và [6]. Và được cập nhật bổ sung từ kết quả nhiệm Đồng Tháp. Bảng 1: Thông tin về hệ thống ô bao, đê bao các Huyện/Thị - tỉnh An Giang Ô bao KS lũ cả năm Ô bao KS lũ tháng 8 Số Chiều Diện Cao TT Huyện/Thị Số Diện Cao trình Số Chiều dài dài tích trình lượng tích (ha) (m) lượng đê (Km) (Km) (ha) (m) 1 Huyện An Phú 13 8.657 143,73 6 8 8.255 80,41 3,5-4,0 2 Huyện Tân Châu 8 11.099 132,95 4,5-6,0 1 218 1,48 4 3 Huyện Phú Tân 21 22.359 318,34 4,5-5,5 2 100 7,80 3,3-4,2 4 TP. Châu Đốc 8 5.620 83,62 4,3-5,0 3 705 25,85 2,0-3,0 5 Huyện Châu Phú 45 30.651 512,36 2,5-4,5 16 7.567 148,54 2,0-4,0 6 Huyện Tịnh Biên 9 5.546 88,78 3,6-4,6 33 9.635 216,75 1,2-2,8 7 Huyện Tri Tôn 54 18.595 449,74 3,0-5,5 79 22.698 595,54 1,3-5,5 8 Huyện Châu Thành 49 24.449 496,26 2,0-4,0 12 4.457 93,55 2,0-3,5 9 TP. Long Xuyên 11 898 52,56 2,4-2,8 43 3.936 219,01 1,6-2,8 10 Huyện Thoại Sơn 120 35.538 985,33 1,5-3,2 5 169 16,51 1,5-2,6 11 Huyện Chợ Mới 82 24.192 665,28 2,5-3,8 3 200 16,65 2,0-3,5 Nguồn: Viện QHTL Miền Nam, năm 2018 Bảng 2: Thông tin về hệ thống ô bao, đê bao các Huyện/Thị - tỉnh Đồng Tháp Ô bao KS lũ cả năm Ô bao KS lũ tháng 8 Số Diện Chiều Cao Diện Chiều Cao Huyện/Thị TT Số lượng tích dài trình Số lượng tích dài trình (ha) (Km) (m) (ha) (Km) (m) 1 H. Hồng Ngự 7 7.245 294,55 4,76,3 8 4.438 85,63 3,04,0 2 Thx. Hồng Ngự 9 2.396 79,24 2,05,5 16 6.325 153,31 2,394,3 3 H. Tân Hồng 22 12.392 244,28 4,5 24 15.787 272,05 3,34,5 4 H. Tam Nông 18 9.861 196,43 3,04,5 34 18.683 383,54 3,04,5 5 H. Thanh Bình 21 10.197 262,03 2,74,5 30 11.946 300,83 3,24,5 6 H. Cao Lãnh 192 27.512 1.069,22 2,24,5 30 1.998 113,65 2,34,5 7 TP. Cao Lãnh 41 4.167 188,84 2,73,3 18 2.421 94,75 2,73,2 8 H. Tháp Mười 138 33.050 988,53 2,393,8 17 2.984 99,65 2,393,8 9 H. Lấp Vò 150 18.406 1.003,33 2,393,8 10 Thx. Sa Đéc 44 2.020 149,97 1,84,5 31 1085,56 94,48 2,22,5 11 H. Lai Vung 162 17.990 866,47 2,04,5 5 438 23,30 2,02,29 12 H. Châu Thành 162 19.703 894,52 1,24,5 6 812 34,51 1,82,8 Nguồn: Viện QHTL Miền Nam, năm 2018 4 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019
  5. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 2.2. Kịch bản lũ Kết quả mô phỏng lũ vùng ĐBSCL ứng với Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành kịch bản mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu đạt 4 mô phỏng 3 kịch bản lũ, ứng với mực nước m, được thể hiện ở hình 2. lũ tại Tân Châu: 4,0 m (lũ báo động II); 4,5 Với mức lũ 4,0 m tại Tân Châu, Vùng TGLX m lũ báo động III) và 5,09 m tương ứng lũ có 19 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với tổng lịch sử năm 2000. diện tích 7.336 ha, thuộc huyện Tân Hiệp, và 2.3. Phương pháp nghiên cứu TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. Trên cơ sở dữ liệu thứ cấp về ô bao, đê bao, bờ bao (bao gồm diện tích, chiều dài đê, chiều rộng, cao trình đỉnh đê) chống lũ tháng 8 và kiểm soát lũ cả năm, tiến hành số hóa xây dựng bản đồ hiện trạng hệ thống ô bao, bờ bao vùng lũ ĐBSCL. Mô phỏng lũ vùng lũ ĐBSCL theo các kịch bản được tiến hành bằng mô hình toán thủy lực VRSAP, sau khi đã kiểm định, phê chuẩn mô hình dựa vào các trận lũ đã xảy ra mấy năm gần đây, trong đó có lũ 2018. Đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống đê bao vùng lũ theo các kịch bản, được thực hiện Hình 3: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất bằng cách chồng ghép bản đồ mực nước lũ lớn an toàn, và bị tràn trên vùng TGLX ứng với nhất mô phỏng với cao trình hiện trạng ô bao, mức lũ 4,0 m tại Tân Châu đê bao, bờ bao trên nền bản đồ đã được số hóa. Trong nghiên cứu này các ô bao có nguy cơ bị Với mức lũ 4,0 m tại Tân Châu, vùng ĐTM có mất an toàn là các ô bao có cao trình đê bao 68 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với tổng diện cao hơn mực nước lũ tại vị trí đang xét không tích 11.998 ha, chủ yếu thuộc huyện Tân quá 0,2 m (tạm tính chiều cao nước dâng do Thạnh, tỉnh Long An. sóng, do ghe thuyền đi lại là 0,2 m). 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Khả năng đáp ứng của hệ thống đê bao ứng với cao trình đỉnh lũ tại Tân Châu 4,0m (lũ báo động II) Hình 4: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất an toàn trên vùng ĐTM ứng với mức lũ 4,0 m tại Tân Châu Hình 2: Mực nước lớn nhất vùng lũ ĐBSCL Với mức lũ 4,0 m tại Tân Châu, vùng Giữa hai ứng với đỉnh lũ tại Tân Châu 4,0 m sông có 110 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019 5
  6. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ tổng diện tích 10.952 ha, chủ yếu thuộc các huyện của tỉnh Đồng Tháp. Tỉnh An Giang chỉ có 1 ô bao có nguy cơ mất an toàn. Hình 7: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất an toàn trên vùng TGLX ứng với mức lũ 4,5 m tại Tân Châu Với mức lũ 4,5 m tại Tân Châu, vùng ĐTM có 173 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với tổng Hình 5: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất diện tích 35.057 ha, thuộc huyện Tân Thạnh, an toàn vùng giữa hai sông ứng với mức lũ tỉnh Long An và các huyện thuộc Tỉnh Đồng 4,0 m tại Tân Châu Tháp, Chi tiết xem hình 8. 3.2. Khả năng đáp ứng của hệ thống đê bao ứng với cao trình đỉnh lũ tại Tân Châu 4,5m (lũ báo động III) Kết quả mô phỏng lũ vùng ĐBSCL ứng với kịch bản mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu đạt 4,5 m, được thể hiện ở hình 6. Hình 8: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất an toàn trên vùng ĐTM ứng với mức lũ 4,5 m tại Tân Châu Hình 6: Mực nước lớn nhất vùng lũ ĐBSCL ứng với đỉnh lũ tại Tân Châu 4,5 m Với mức lũ 4,5 m tại Tân Châu, vùng TGLX có 39 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với tổng diện tích 16.300 ha, chủ yếu thuộc các huyện Hòn Đất, Tân Hiệp, và TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. Trên địa bàn tỉnh An Giang chỉ có 1 ô Hình 9: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất bao bị mất an toàn ở khu vực huyện Tịnh Biên, an toàn trên vùng giữa hai sông ứng với xem hình 7. mức lũ 4,5 m tại Tân Châu 6 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019
  7. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Với mức lũ 4,5 m tại Tân Châu, vùng Giữa hai Với mức nước đỉnh lũ tại Tân Châu, đạt 5,09 sông có 305 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với m, tương đương lũ lịch sử năm 2000, vùng tổng diện tích 37.423 ha, chủ yếu thuộc các ĐTM có 272 ô bao có nguy cơ mất an toàn, huyện của tỉnh Đồng Tháp, một phần còn lại với tổng diện tích 58.424 ha, thuộc huyện Tân thuộc tỉnh An Giang. Chi tiết xem hình 9. Thạnh, tỉnh Long An và các huyện thuộc Tỉnh 3.3. Khả năng đáp ứng của hệ thống đê bao Đồng Tháp, thể hiện trên hình 12. ứng với cao trình đỉnh lũ tại Tân Châu 5,09m (tương đương lũ lịch sử năm 2000) Kết quả mô phỏng lũ vùng ĐBSCL ứng với kịch bản mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu đạt 5,09 m, tương đương lũ lịch sử năm 2000, được thể hiện ở hình 10. Hình 12: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất an toàn trên vùng ĐTM ứng với mức lũ 5,09 m tại Tân Châu Với mức lũ đỉnh lũ tại Tân Châu, đạt 5,09 m, tương đương lũ lịch sử năm 2000, vùng Giữa hai sông có 231 ô bao có nguy cơ mất an toàn, Hình 10: Mực nước lớn nhất vùng lũ ĐBSCL với tổng diện tích 39.161 ha, chủ yếu thuộc ứng với đỉnh lũ tại Tân Châu 5,09 m các huyện của tỉnh Đồng Tháp, một phần còn Với mức nước đỉnh lũ tại Tân Châu, đạt 5,09, lại thuộc tỉnh An Giang, xem hình 13. vùng TGLX có 411 ô bao có nguy cơ mất an toàn, với tổng diện tích 189.004 ha, thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và An Giang, thể hiện trên hình 11. Hình 13: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất an toàn trên vùng giữa hai sông ứng với mức lũ 5,09 m tại Tân Châu Hình 11: Bản đồ các ô bao có nguy cơ mất 4. KẾT LUẬN an toàn trên vùng TGLX ứng với mức lũ Xét liệt tài liệu 34 năm kể từ năm 1985 đến 5,09 m tại Tân Châu năm 2018, mực nước lũ tại Tân Châu và Châu TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019 7
  8. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Đốc có xu thế giảm, thời gian xuất hiện đỉnh lũ khu vực có nguy cơ tràn và mất an toàn cao có xu thế sớm hơn so với trước đây. Tuy vậy, thuộc tỉnh Kiên Giang, tỉnh Đồng Tháp và đỉnh lũ tại Cần Thơ và Mỹ Thuận lại có xu thế tỉnh Long An. tăng do ảnh hưởng của triều cường, nước biển Trong nghiên cứu này lấy chiều cao nước dâng và không loại trừ do các tác động từ phát dâng do sóng, do ghe thuyền đi lại là 0,2 m triển kinh tế nội tại, v.v… chưa đảm bảo chính xác. Để sát với thực tế Hiện trạng hệ thống đê bao, bờ bao vùng hơn cần xác định các thông số sóng, gió, độ ĐTM, TGLX và vùng giữa sông Tiền và sông sâu ngập cho từng ô bao, độ dốc mái đê … Hậu, cơ bản đảm bảo an toàn cho sản xuất với sau đó mới xác định được cao trình đỉnh đê mức lũ trên dưới báo động II, tức là mực nước đảm bảo nước không tràn qua. Mặt khác, đỉnh lũ tại Tân Châu đạt trên dưới 4,0 m. Với cũng cần bổ sung thêm các ô bao có nguy cơ mực lũ từ báo động III trở lên, tức là đỉnh lũ mất an toàn trong một số trường hợp khác tại Tân Châu bằng hoặc trên 4,5 m, thì nhiều như: khi mặt cắt đê không đảm bảo về mặt đê bao, bờ bao ở cả ba vùng có nguy cơ bị mất ổn định, bị rò rỉ … an toàn. Thực tế lũ năm 2018 vừa xảy ra, với Các ô bao có nguy cơ mất an toàn chỉ xét ở mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu là 4,09 m, đã những vùng kiểm soát lũ, những vùng không minh chứng cho kết luận này. kiểm soát lũ thuộc vùng lũ ĐBSCL không đề Cần đầu tư nâng cấp đê bao, bờ bao tại các cập tới. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hội nghị sơ kết sản xuất lúa năm 2018; Triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông xuân năm 2018-2019, tại các tỉnh vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL, Bộ NNPTNT tổ chức, ngày 17.10, tại TP Rạch Giá (Kiên Giang); [2] Kế hoạch ĐBSCL tầm nhìn và chiến lược dài hạn, tháng 12/2013; [3] TS. Tô Văn Trường, Đê bao, bờ bao ở ĐBSCL, Hội đập lớn & phát triển nguồn nước Việt Nam, tra cứu 5/2019; [4] Nguyễn Ty Niên, Lũ Lụt và phát triển bền vững ĐBSCL, Tuổi trẻ online, 26/7/2017; [5] Miền trái ngọt đồng bằng, bứt phá vượt qua các cột mốc, Báo Nông nghiệp Việt Nam, ngày 3/1/2019; [6] ThS. Trần Bá Hoàng, Điều tra Điều tra hiện trạng hệ thống đê bao bờ bao và các công trình dưới đê bao vùng ngập lũ ĐBSCL, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, 11/2011; [7] Nhiệm vụ thường xuyên Cập nhật thông tin hệ thống đê bao vùng lũ ĐBSCL, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, năm 2018; [8] Dự báo nguồn nước phục vụ điều hành sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL trong mùa lũ, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, năm 2018. 8 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 55 - 2019

Tài liệu cùng danh mục Môi trường

Áp dụng quy định kỹ thuật của IPCC cho bộ dữ liệu lớp phủ phục vụ tính toán phát thải khí nhà kính các bon tại Việt Nam

Bài viết trình những quy định kỹ thuật áp dụng cho quá trình xây dựng bộ dữ liệu lớp phủ phục vụ tính toán phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí các bon trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và rừng.


Nghiên cứu xác định những thay đổi bổ sung về chi phí đầu tư cho các cống dưới đê vùng triều ở miền Bắc và miền Trung thích ứng với biến đổi khí hậu

Bài viết trình bày kết quả đánh giá hiện trạng, phân tích các tác động của biến đổi khí hậu đến cống dưới đê vùng triều và đề xuất cách tính toán sự gia tăng của các yếu tố khí hậu theo các kịch bản biến đổi khí hậu; đưa ra các giải pháp phù hợp cho các cống dưới đê vùng triều thích ứng với BĐKH; trên cơ sở đó, lựa chọn, tính toán thiết kế và xác định, phân tích sự biến động về chi phí đầu tư cho một số cống dưới đê điển hình cho vùng nghiên cứu.


Nghiên cứu sóng tràn và áp lực sóng tác động lên tường biển có mũi hắt sóng bằng mô hình máng sóng số

Máng sóng số là công cụ rất hữu ích phục vụ nghiên cứu quá trình biến dạng sóng ở vùng ven bờ, tương tác sóng với công trình và thiết kế các công trình chắn sóng, bảo vệ bờ. Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu sóng tràn và áp lực sóng tác động lên các dạng tường biển có mũi hắt sóng khác nhau và hiệu quả giảm sóng tràn và áp lực sóng tác động lên các loại tường biển này. Mô hình máng sóng số được kiểm định bằng bộ số liệu thí nghiệm sóng tràn và áp lực sóng trên mô hình vật lý máng sóng tại Trường Đại học Thủy lợi để đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác của mô hình.


Nghiên cứu tính toán nhu cầu sử dụng nước nông nghiệp cho lưu vực sông Mã theo các kịch bản biến đổi khí hậu

Bài viết dựa vào mô hình IQQM làm công cụ để tính nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp trên lưu vực sông Mã theo các kịch bản biến đổi khí hậu.


Hoàn thiện mô hình mặt biển trung bình khu vực và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực trên vùng biển Việt Nam

Bài viết trình bày kết quả hoàn thiện mô hình mặt biển trung bình khu vực và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực bằng phương pháp và kết quả xây dựng các mô hình này.


Nghiên cứu ảnh hưởng của độ nhám bề mặt tới kết quả đo độ ẩm đất sử dụng phổ kế siêu cao tần băng L

Bài viết nghiên cứu, kiểm định về sự ảnh hưởng của độ nhám bề mặt đến kết quả đo độ ẩm đất sử dụng phổ kế siêu cao tần băng L. Để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu mời các bạn cùng tham khảo bài viết.


Xác định phạm vi và vai trò các khu vực trên bãi sông trong không gian thoát lũ trên sông

Nội dung trong bài báo này mới chỉ nêu một phần các suy nghĩ, cách hiểu và nhận thức về các khu vực trên bãi sông của các tác giả, nhằm giới thiệu, trao đổi để có thể chi tiết hóa một số quy định sử dụng bãi sông giúp đơn giản hơn trong việc thực hiện nội dung quản lý bãi sông trong công tác phòng chống lũ.


Thử nghiệm dự báo tổ hợp hạn mùa trường nhiệt độ mùa đông trên khu vực bắc bộ dựa trên cách tiếp cận đa vật lý và trung bình trễ

Nghiên cứu khảo sát dự báo nhiệt độ hạn mùa vào mùa đông trên khu vực Bắc Bộ bằng mô hình khí hậu khu vực RegCM phiên bản 4.6.1. Các khảo sát đánh giá các kết quả dự báo do ảnh hưởng của việc sử dụng các sơ đồ tham số hóa vật lý khác nhau của mô hình RegCM, gồm sơ đồ bề mặt BATS và CLM4.5, sơ đồ bức xạ RRTM và CCRM và sơ đồ đối lưu Grell, Kain-Friscth và Tiedkle. Điều kiện biên sử dụng là mô hình CFS phiên bản 2 của NCEP (Mỹ) thời đoạn 2011-2018.


Ứng dụng phương pháp chuẩn đánh giá chất lượng dự báo sự kiện mưa

Theo Hướng dẫn kỹ thuật của Tổ chức Khí tượng Thế giới, có hai phương pháp đánh giá chất lượng dự báo là Phương pháp chuẩn và Phương pháp khoa học. Việc đánh giá dự báo tùy thuộc vào biến dự báo được phân chia theo pha (phân nhóm) hay biến liên tục. Trong nội dung bài báo này chúng tôi trình bày phương pháp chuẩn đánh giá chất lượng dự báo điểm và kết quả đánh giá chất lượng dự báo đối với sự kiện mưa tại những điểm lân cận thuộc khu vực có trạm quan trắc. Kết quả này có thể giúp dự báo viên phân tích, lưạ choṇ mô hình, phương pháp dự báo tôt́ nhât́ nhằm nâng cao chất lượng bản tin dự báo thời tiết chung và dự báo mưa nói riêng.


Chế tạo vật liệu Hydrogel tổ hợp của Nanocellulose và Alginate hướng đến ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm

Trong báo cáo này, chúng tôi tổng hợp vật liệu hydrogel hấp phụ có khả năng tái tạo trên cơ sở nanocellulose và alginate. Nanocellulose tổng hợp từ cellulose, được cô lập từ bã mía, bằng phương pháp thủy phân axit. Phân tích kết quả TEM cho thấy nanocellulose tổng hợp có dạng sợi với tỷ lệ L/D cao. Vật liệu hydrogel giữa nanocellulose và alginate được tổng hợp bằng quá trình gel hóa ion với sự hiện diện của ion Ca2+. Hydrogel (nanocellulose và alginate) thu được có dạng hình cầu, được khảo sát khả năng hấp phụ methylene blue khi thay đổi các điều kiện như: nồng độ chất nhuộm, thời gian hấp phụ và lượng chất hấp phụ. Hydrogel cho thấy khả năng hấp phụ methylene blue tốt hơn so với alginate thuần.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu