Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Bảo tồn chức năng sinh sản trong điều trị ung thư

Điều trị bệnh lý ác tính cũng như một số tình trạng lành tính hoặc tiền ứng có thể phải phẫu thuật cắt bỏ cơ quan sinh sản hoặc sử dụng thuốc hóa trị hoặc xạ trị gây độc tính sinh sản. Điều này đưa đến mất khả năng sinh sản, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU BẢO TỒN CHỨC NĂNG SINH SẢN TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHAN THỊ HỒNG ĐỨC1 TÓM TẮT Điều trị bệnh lý ác tính cũng như một số tình trạng lành tính hoặc tiền ung có thể phải phẫu thuật cắt bỏ cơ quan sinh sản hoặc sử dụng thuốc hóa trị hoặc xạ trị gây độc tính sinh sản. Điều này đưa đến mất khả năng sinh sản, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Tất cả các bệnh nhân cần cân nhắc điều trị độc sinh dục hoặc phẫu thuật cắt bỏ sinh dục và có mong muốn sinh sản trong tương lai cần được khám với chuyên gia nội tiết sinh sản để thảo luận về các chọn lựa bảo tồn sinh sản. ●Phương pháp được ưa chuộng nhất để bảo tồn khả năng có con ở phụ nữ có nguy cơ suy sinh dục là trữ lạnh phôi. ●Khi không thể trữ lạnh phôi, trữ lạnh trứng trưởng thành trong ống nghiệm là một chọn lựa hợp lý. ●Trữ lạnh mô buồng trứng đang nghiên cứu, không có sẵn rộng rãi, có hiệu quả không chắc chắn. ●Nếu trữ lạnh phôi hoặc trứng không khả thi, các chọn lựa thay thế để bảo tồn sinh sản thay đổi dựa trên điều trị dự kiến. Với kế hoạch và can thiệp thích hợp trước điều trị, kế hoạch sinh sản sinh học có thể cho nhiều bệnh nhân nam và nữ sẽ mất chức năng sinh sản do phẫu thuật hoặc độc tính sinh dục. Chủ đề này sẽ bàn về các biện pháp bảo tồn chức năng sinh sản ở phụ nữ trẻ nhận các tác nhân có khả năng có độc tính sinh dục. ABSTRACT Treatment of malignancy, as well as some precancerous and benign conditions, may necessitate surgical resection of reproductive organs or administration of gonadotoxic chemotherapy or radiation therapy. This often leads to infertility, which is a major quality of life concern. All patients who are considering gonadotoxic therapy or gonad-removing surgery and who desire future fertility are referred to a reproductive endocrinologist for a discussion of fertility preservation options. ●The most well-established method for preservation of child-bearing potential in women at risk of gonadal failure is embryo cryopreservation. ●When embryo cryopreservation is not feasible, cryopreservation of oocytes matured in vivo is a reasonable option. ●Cryopreservation of ovarian tissue is investigational, is not widely available, and has an uncertain efficacy. ●If embryo or oocyte cryopreservation is not feasible, alternate options for fertility preservation vary based on the planned treatment. With appropriate pretreatment planning and intervention, biologic parenthood is possible for many men and women who will lose reproductive function because of surgery or gonadotoxic treatment. This topic will discuss several measures for preserving fertility in young women receiving potentially gonadotoxic agents. The approach to fertility preservation in healthy women who wish to delay child-bearing is discussed separately. Key words: Preserving fertility, embryo cryopreservation, oocyte cryopreservation, GnRH agonists. 1 TS.BS. Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu - Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch - BS Điều trị Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 28 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  2. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU ĐẶT VẤN ĐỀ TRỮ LẠNH PHÔI Điều trị bệnh lý ác tính, một số bệnh lành tính Trữ lạnh phôi là kỹ thuật hiệu quả để bảo tồn hoặc tiền ung có thể phải phẫu thuật cắt bỏ cơ quan khả năng sinh sản; trữ lạnh sau khi rã đông phôi sử sinh sản, sử dụng thuốc hóa trị hoặc xạ trị gây độc dụng được khoảng 20% trong các chu kỳ hỗ trợ sinh tính sinh sản. Điều này đưa đến mất khả năng sinh sản. Trữ lạnh noãn trưởng thành cũng được chứng sản, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. minh, trong khi trữ lạnh noãn chưa trưởng thành hoặc mô buồng trứng là các tiếp cận hứa hẹn với Với kế hoạch và can thiệp thích hợp trước các báo cáo có nhiều trẻ sinh sống nhưng vẫn còn điều trị, kế hoạch sinh sản sinh học có thể tạo cơ hội đang nghiên cứu. Trữ lạnh toàn bộ buồng trứng với cho nhiều bệnh nhân mất chức năng sinh sản do nguyên cuống và mạch máu nuôi cũng được nghiên phẫu thuật hoặc độc tính sinh dục. Chủ đề này sẽ cứu và chưa có kết quả. bàn về các biện pháp bảo tồn chức năng sinh sản ở phụ nữ trẻ nhận các tác nhân có khả năng có Trữ lạnh phôi và trứng có thể được nhiều năm. độc tính sinh dục. Phôi đông lạnh sống còn sau quá trình rã đông tốt hơn trứng hiến tặng (>90% sống còn so với 50- TƯ VẤN TRƯỚC ĐIỀU TRỊ 70%). Tại một trung tâm kinh nghiệm, tỉ lệ sinh sống Trước khi bắt đầu điều trị có khả năng có độc ở bệnh nhân sử dụng trứng đông lạnh thụ tinh trong tính sinh dục, bác sĩ nên thảo luận nguy cơ mất khả ống nghiệm (IVF) gần 21% so với 60% bệnh nhân năng sinh sản gây ra do điều trị và các can thiệp để sử dụng IVF với trứng tươi. Do đó, trữ lạnh một phôi bảo tồn khả năng sinh sản. Bất kỳ khi nào có thể, tất được ưa chuộng hơn trữ lạnh trứng khi có thể. cả các bệnh nhân mới được chẩn đoán nên gặp Tuy nhiên, trữ lạnh phôi hoặc trứng không đảm chuyên gia nội tiết sinh sản và vô sinh nếu sinh sản bảo bảo tồn sinh sản vì các bất thường nhiễm sắc là mối quan tâm, thường là trước khi điều trị. Trong thể hiện diện ở một số trứng, ngay cả ở phụ nữ trẻ. một nghiên cứu hồi cứu 303 bệnh nhân ung thư vú ≤40 tuổi, 80 bệnh nhân (26%) có thảo luận với bác sĩ Phôi về vấn đề sinh sản, nhưng gần 90% những bệnh Trữ lạnh phôi là một kỹ thuật tốt để trữ các phôi nhân này theo đuổi các tư vấn bảo tồn chức năng thừa của bệnh nhân thực hiện IVF. Trữ lạnh phôi có sinh sản sau đó. Việc thảo luận này nên thực hiện thể không dễ dàng cho mọi bệnh nhân vì các lý do sau: sớm sau chẩn đoán vì các can thiệp để bảo tồn chức năng sinh sản cần thời gian và có thể gây trì Chống chỉ định thời gian hoãn điều trị. Nên giới thiệu bệnh nhân đến bác sĩ Vì điều trị độc sinh dục thường thực hiện ngay chuyên khoa sớm. sau khi chẩn đoán ung thư, do đó không đủ thời gian kích thích buồng trứng và phục hồi noãn, thường Bảo tồn chức năng sinh sản cần được cá thể cần 2-3 tuần. hóa. Tiếp cận tối ưu tùy thuộc vào loại điều trị độc tính sinh dục (xạ trị so với hóa trị), thời gian có Với tình trạng khẩn cấp, phục hồi noãn suốt pha sẵn, tuổi bệnh nhân, các bệnh lý đặc biệt, bệnh nhân hoàng thể và trưởng thành trong ống nghiệm (thay vì có người hôn phối hay không, chi phí điều trị, vấn đề trưởng thành tự nhiên) sau đó đông lạnh trong ống lâu dài (lưu trữ và sử dụng trứng hoặc phôi nghiệm và trữ lạnh phôi có thể là một chọn lựa. đông lạnh). Trong chu kỳ letrozole, kích thích buồng trứng có thể bắt đầu tại một thời điểm ngẫu nhiên trong chu kỳ PHƯƠNG PHÁP BẢO TỒN SINH SẢN Ở NỮ mà không làm ảnh hưởng tỉ lệ sinh sản. Khi cố gắng Không có các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tăng số lượng trứng/phôi, một nhóm thực hiện thành lớn để đánh giá phần lớn các can thiệp được mô tả công 2 chu kỳ kích thích liên tiếp với tính an toàn dưới đây, cũng như không có các nghiên cứu theo tương tự so với phụ nữ trải qua 1 chu kỳ đơn độc. dõi lâu dài đánh giá các tác động có thể có của điều Một nghiên cứu khác IVF tương tự có tỉ lệ thành trị lên khả năng sinh sản. Nhiều bác sĩ ung thư vẫn công từ trứng có được sau kích thích buồng trứng còn cảnh báo việc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bắt đầu ở chu kỳ 2 so với chu kỳ ngày 15. Không (ART) truyền thống ở những phụ nữ có bệnh lý ác khuyến cáo kích thích buồng trứng trước hóa trị vì tính phụ thuộc estrogen, vì ART gồm kích thích buồng trứng sau kích thích và chất lượng của noãn buồng trứng và gây ra nồng độ estrogen tăng cao. giảm với hóa trị. Hóa trị có thể tạo ra vỡ chuỗi xoắn đôi DNA trong noãn. Do đó, khuyến cáo phụ nữ có Sự hiện diện của ung thư có thể không ảnh hóa trị nên chờ 6 tháng trước khi cố gắng có thai. hưởng dự trữ buồng trứng hoặc đáp ứng với Thời gian này cho phép các nang có tổn thương gonadotropins trước điều trị độc sinh dục, nhưng dữ DNA được thải đi khỏi buồng trứng và nang mới liệu còn bàn cãi. được tạo ra từ các nang nguyên thủy còn sống sót. TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 29
  3. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Không có người hôn phối liều cao gonadotropins, các nguy cơ đi kèm và chi IVF có thể chỉ cung cấp cho những phụ nữ có phí cao, cũng như tiếp xúc của bướu với estrogen sẵn người hôn phối, trừ khi người phụ nữ chọn lựa liều cao. Hơn nữa, noãn chưa trưởng thành có thể sử dụng tinh trùng hiến tặng. chống lại chấn thương do lạnh hơn noãn trưởng thành do chúng không chứa trụ hậu kỳ. Vấn đề hợp pháp và đạo đức Truy nhiên, tỉ lệ cấy mỗi phôi chuyển (5,5 - Kích thích buồng trứng và IVF có thể không 21,6%) thấp hơn có ý nghĩa và mất phôi chuyển cao được chấp nhận về đạo đức với các trẻ em sau hơn IVF truyền thống. Một số ít thai kỳ từ noãn rã hành kinh bị ung thư. Một số nơi phản đối việc sử đông được báo cáo, cần đánh giá lại các kết quả này. dụng phôi trữ lạnh và nó được xem là bất hợp pháp ở nhiều nước (ví dụ: Đức, Thụy sĩ, Ý…) Toàn bộ buồng trứng và cuống: trữ lạnh toàn bộ buồng trứng với mạch máu nuôi có thể giảm mức Bướu nhạy nội tiết độ mất nang trứng suốt thời gian thiếu máu cục bộ Có thể bị kích thích do nồng độ estrogen cao sau cấy ghép, nhưng có khó khăn trong bảo tồn cả khi buồng trứng bị kích thích. nang trứng và cuống mạch buồng trứng. Hiện tại, Noãn bào không có kỹ thuật tốt để trữ lạnh hiệu quả cả buồng trứng và cuống mạch của nó. Noãn trưởng thành: Trữ lạnh noãn trưởng thành là một chọn lựa ở các phụ nữ không có người Mô buồng trứng: Trữ lạnh mô buồng trứng hôn phối mà không sử dụng tinh trùng hiến tặng cho sau đó ghép khác chỗ (như thành bụng, cẳng tay, IVF. Ngược lại với trữ lạnh phôi và tinh trùng, thành ngực) hoặc đúng vị trí (như mô buồng trứng trữ lạnh noãn là một kỹ thuật khó hơn vì noãn chứa còn lại hoặc phúc mạc chậu) là một tiếp cận đang nhiều nước, nhạy cảm với chấn thương lạnh do sự nghiên cứu, chủ yếu vì các dữ liệu lâu dài không tạo thành các tinh thể đá. Trụ giảm phân, khung được thực hiện như trữ lạnh phôi. Bệnh nhân cần tế bào, hạt vỏ và màng trong suốt là các cấu trúc đặc các điều trị độc sinh dục và các bé gái trước tuổi dậy biệt có nguy cơ do đông lạnh. Bằng cách sử dụng kỹ thì là những ứng cử viên cho tiếp cận này. Khi so thuật đông lạnh đặc biệt, khoảng 70% nang noãn trữ sánh với trữ lạnh phôi, các thuận lợi gồm không kích đông sống sót từ quá trình rã đông, có thể lên đến thích buồng trứng cũng như không cần người hôn 90%. phối và mô buồng trứng ghép có thể tiếp tục tiết hormone. Tuy nhiên, quay lại chức năng buồng Trong các nghiên cứu ngẫu nhiên, tỉ lệ mang trứng sau ghép mô buồng trứng với mô tươi dường thai với nang noãn trưởng thành trữ đông thường như dễ dàng hơn mô rã đông. Ở động vật, ghép mô tương tự với noãn tươi. 2 nghiên cứu quan sát lớn buồng trứng rã đông gây mất nang trứng có ý nghĩa báo cáo tỉ lệ thành công nhưng thấp hơn so với vì tổn thương do thiếu máu cục bộ mô ghép. trứng tươi. Dựa trên những dữ liệu này, năm 2013, ASRM (the Practice Committees of the American Mô buồng trứng nên lấy trước hóa trị vì dự trữ Society for Reproductive Medicine) và SART buồng trứng giảm với mỗi chu kỳ hóa trị (Society for Assisted Reproductive Technology) kết Trong 1 nghiên cứu bệnh nhân trữ lạnh mô luận trữ lạnh noãn trưởng thành là chọn lựa hợp lý buồng trứng để bảo tồn sinh sản, số nang nguyên cho bảo tồn sinh sản khi có chỉ định và trữ lạnh phôi thủy ở bệnh nhân có hóa trị thấp hơn có ý nghĩa so không thể được. với nhóm chứng không hóa trị (5,4 ± 1,3 so với 9,6 ± 2,2), và những bệnh nhân dùng tác nhân Hai phương pháp trữ lạnh là kỹ thuật “lạnh alkylating có số lượng nang trứng nguyên thủy thấp chậm” và thủy tinh hóa (thay đổi nước thành đặc mà hơn so với những người điều trị tác nhân không phải không tạo ra tinh thể đá bằng cách sử dụng “đông alkylating (2,9 ± 1 so với 7,9 ± 1,6). lạnh” rất nhanh và đông đặc trong suốt). Đông đặc trong suốt có vẻ thành công hơn đông lạnh chậm, Với liều đơn độc cyclophosphamide khi điều trị nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để xác định có ung thư vú, nang trứng sẽ chết tế bào theo lập trình phương pháp nào ưu thế hơn hay không. bắt đầu sớm sau 12 giờ dùng thuốc. Trước 48 giờ, 93% dự trữ buồng trứng bị mất do cơ chế chết tế Noãn chưa trưởng thành: Noãn chưa trưởng bào theo lập trình. thành trong ống nghiệm (IVM) hoặc trước đông lạnh hoặc sau rã đông; tuy nhiên, noãn tươi có tỉ lệ IVF Chọn lựa bệnh nhân: Tiêu chuẩn Edinburgh là cao hơn IVM. tiêu chuẩn chặt chẽ để chọn lựa ứng cử viên cho trữ lạnh buồng trứng. Tiêu chuẩn này giới hạn ở những Noãn chưa trưởng thành trong ống nghiệm là bé gái/ phụ nữ
  4. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Chống chỉ định và nguy cơ: bảo tồn mô Chuyển vị có thể thực hiện bằng nội soi ngay buồng trứng không là chọn lựa cho các phụ nữ ung trước khi bắt đầu xạ trị. Thực hiện tiến trình sát thời thư buồng trứng hoặc có nguy cơ cao phát triển ung gian xạ trị giảm cơ hội thất bại khi di chuyển buồng thư buồng trứng. Phụ nữ có đột biến gen BRCA 1 và trứng trở lại vùng điều trị. Tỉ lệ thành công được báo BRCA 2 có nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng cáo 16 - 90%. Các thất bại do nhiều yếu tố như xạ 60% và trong suốt cuộc đời 10 - 20%. Những phụ nữ phân tán, mạch máu, liều xạ, tuổi bệnh nhân và có này cần cắt buồng trứng dự phòng (thường sau khi che chắn buồng trứng lúc xạ hay không. Các biến hoàn tất sinh đẻ) để giảm nguy cơ phát triển ung thư chứng trong suốt quá trình theo dõi gồm đau buồng buồng trứng hoặc là một phần của kế hoạch điều trị trứng mạn tính, nhồi máu vòi Fallope, tạo thành các ung thư vú. Tuy nhiên giả thuyết mô buồng trứng nang buồng trứng. đông lạnh khi rất trẻ và ở nguy cơ rất thấp bị ung thư Khi chức năng buồng trứng được bảo tồn, có buồng trứng, trữ lạnh mô buồng trứng có thể được thể có thai tự nhiên mà không cần đưa buồng trứng cân nhắc. trở lại vị trí ban đầu; do đó buồng trứng không được Ở bệnh nhân ung thư vú thể ống xâm lấn là đưa lại vị trí cũ trừ khi bệnh nhân không có thai lại. phân nhóm thường gặp nhất, ít khi di căn xa đến Nếu bệnh nhân cần IVF, thu thập trứng từ buồng buồng trứng, ngược lại với ung thư vú tiểu thùy, trứng chuyển vị có thể thực hiện qua bụng hơn là thường có suốt nhiều năm sau đó. qua âm đạo. Phôi sinh ra từ trứng lấy từ buồng trứng chuyển vị có thể được dùng để chuyển cho bệnh Khi có vấn đề liên quan đến buồng trứng có ý nhân hoặc nếu bệnh nhân phải cắt tử cung, chúng nghĩa, tiến trình trữ lạnh không nên thực hiện với có thể được chuyển cho người mang thai hộ. mục đích ghép tự thân trong tương lai. Nên đánh giá mô học kỹ lưỡng trên phần mô buồng trứng thu Che chắn được để loại trừ vi di căn. Sử dụng các dấu hiệu Che chắn bên ngoài buồng trứng để giảm hậu phân tử để phát hiện tối đa số lượng nhỏ các tế bào quả của xạ trị phân tán là một chọn lựa cho bệnh di căn ở mô khi có tồn tại các dấu ấn đó. nhân có trường chiếu xạ xa vùng chậu. BẢO VỆ CHỨC NĂNG BUỒNG TRỨNG TỰ NHIÊN Ghép tự thân Bất cứ khi nào có thể, tất cả các bệnh nhân mới Ở bệnh nhân dự kiến xạ trị vùng chậu, ghép tự được chẩn đoán và có vấn đề sinh sản nên gặp thân buồng trứng tươi đến chi trên với sự tạo ra chuyên gia sinh sản, ưu tiên trước điều trị, để thảo thông nối mạch máu lấy đi buồng trứng từ trường luận các chọn lựa bảo tồn chức năng sinh sản. chiếu xạ và do đó bảo vệ chúng khỏi tổn thương do Với bệnh nhân có xạ trị xạ. Vấn đề thực hành lâm sàng của tiếp cận này còn là một câu hỏi. Các nang trứng nhạy cảm với tổn thương DNA từ tia ion hóa. Xạ trị buồng trứng có thể làm teo Với bệnh nhân hóa trị buồng trứng và giảm số lượng nang trứng. Mức độ Cung cấp kỹ thuật trữ lạnh cho những phụ nữ tổn thương buồng trứng tùy thuộc vào tuổi bệnh muốn bảo tồn chức năng sinh sản. nhân và liều xạ phân phối đến buồng trứng, phức tạp hơn nếu có hóa trị. Điều trị nội khoa để giảm tổn GnRH agonist thương buồng trứng do xạ trị không thành công ở Khuyến cáo không sử dụng gonadotropin- người. releasing hormone (GnRH) agonists như điều trị Chuyển vị (oophoropexy) nguyên phát để bảo tồn chức năng buồng trứng vì các điều trị này không bằng hoặc ưu thế hơn trữ Khi trường chiếu xạ được lên kế hoạch để điều lạnh phôi hoặc noãn. Tuy nhiên, với bệnh nhân mà trị ung thư, các chuyên gia xạ trị và phẫu thuật viên tiến trình trữ lạnh không là chọn lựa (do tiếp cận, sinh sản có thể làm việc cùng nhau để lập kế hoạch thời gian, các lý do liên quan ung thư, hoặc vấn đề phẫu thuật di chuyển buồng trứng đến một vị trí sẽ của bệnh nhân), một số thầy thuốc cung cấp GnRH được bảo vệ tốt nhất khỏi trường chiếu xạ. Ở những agonist với mục tiêu bảo tồn chức năng buồng bệnh nhân bướu không phải ở vùng chậu và trường trứng. Tuy nhiên, bệnh nhân phải hiểu rằng điều trị chiếu xạ đường giữa hẹp, cố định buồng trứng đơn này có lợi ích giới hạn để bảo tồn chức năng sinh giản có thể có ích để phòng ngừa tổn thương buồng sản, không thể thay thế các phương pháp đã được trứng do xạ. Ở bệnh nhân có xạ trị rộng vùng chậu, thiết lập như trữ lạnh trứng hoặc phôi, và có các chuyển buồng trứng ra khỏi trường chiếu xạ là một nguy cơ về lý thuyết. Ngược lại, GnRH agonists chọn lựa để bảo tồn chức năng sinh dục khi không được sử dụng để giảm rong kinh rong huyết. có hóa trị. TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 31
  5. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Điều trị GnRH để bảo tồn sinh sản gặp khó lại và mức độ FSH. Các kết quả thứ phát bao gồm tỉ khăn trong đánh giá vì nhiều nghiên cứu sử dụng lệ có thai và sống còn không bệnh. các kết quả không đáng tin cậy hoặc không thích ●Với 135 phụ nữ có dữ liệu kết cuộc chính hợp. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu trên bệnh hoàn tất, số được điều trị goserelin và hóa trị có nhân có các thể bệnh khác nhau. Đo lường cuối suy buồng trứng ít hơn so với chỉ hóa trị tiêu chuẩn cùng của sinh sản là tỉ lệ sinh sống. Tuy nhiên, số (8 so với 22%) (odds ratio 0,30, 95% CI 0,09-0,97). lượng sinh sống trong các nghiên cứu này thường ít và đánh giá thống kê bị giới hạn do cỡ mẫu nhỏ. ●Với 218 bệnh nhân được chia nhóm ngẫu Các dấu ấn khác được báo cáo, nhưng kết quả nhiên, những người điều trị với goserelin có khả không đánh giá được tỉ lệ sinh có ý nghĩa. Ví dụ, có năng có thai (21 so với 11%) và có khả năng có ≥ 1 kinh lại là một dấu hiệu tiên đoán về sinh sản không con (15 so với 7%) cao hơn so với chỉ hóa trị tiêu tốt vì bệnh nhân có thể có kinh lại nhưng vẫn vô chuẩn . sinh. Ở phụ nữ trẻ, có kinh không đều đặn là một triệu chứng thường gặp của thiếu hụt chức năng Tỉ lệ sống còn không bệnh 4 năm tốt hơn với phụ nữ sử dụng goserelin (89 so với 78%). buồng trứng hơn những người có kinh đều đặn. Mức độ FSH thay đổi hàng ngày, qua các chu kỳ và Tuy nhiên, nghiên cứu này có nhiều điểm yếu về không thể được so sánh trừ khi chúng được đo vào phương pháp luận ngày 2 hoặc 3 của chu kỳ kinh. Mức độ anti- Các kết cuộc được sử dụng trong nghiên cứu müllerian hormone (AMH) và số lượng nang thứ cấp (ví dụ: ngừng kinh nguyệt, FSH, estradiol, và Inhibin- (antral follicle counts (AFC) là yếu tố tiên đoán tốt B) có khả năng kém trong thay thế chức năng buồng hơn về dự trữ buồng trứng. Nghiên cứu về AMH và trứng và sinh sản. AFC không báo cáo bất kỳ lợi ích nào của GnRH agonists để bảo tồn dự trữ buồng trứng. Thông tin sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) trong mỗi nhóm không được bao gồm; sự Các cơ chế của GnRH agonists để bảo vệ chức khác biệt về sử dụng ARTcó thể tác động tỉ lệ mang năng buồng trứng không rõ ràng. GnRH agonists đè thai và sinh sống. nén chức năng buồng trứng và do đó có giả thuyết bảo vệ buồng trứng vào thời điểm tác động của độc Trong nghiên cứu, tỉ lệ có thai được tính trừ chất như hóa trị. Tuy nhiên, các nang trứng vẫn còn nhóm nghiên cứu tổng và có khuynh hướng số liệu tiếp xúc với các tác nhân làm tổn thương DNA mặc các phụ nữ cố gắng có thai cao hơn trong nhóm dù sản xuất nội tiết buồng trứng bị đè nén. Vì nang GnRH agonist. Tuy nhiên, khi tính toán dựa trên số trứng nguyên thủy không biều lộ thụ thể lượng phụ nữ cố gắng thụ thai hơn toàn bộ các phụ gonadotropin, liệu pháp kháng GnRH không rõ có nữ trong nhóm, không có sự khác biệt có ý nghĩa làm tăng sống còn của các tế bào này hay không. thống kê giữa 2 nhóm (12/18, hoặc 67%, trong nhóm chứng so với 22/25, hoặc 88%, trong nhóm GnRH Bệnh nhân ung thư vú agonist; p=0.188). Thêm vào đó, những người có Khuyến cáo trữ lạnh để bảo tồn sinh sản. thai trẻ hơn so với những người không có thai; vì vậy có thể tuổi bệnh nhân, và không phải là điều trị Hiệu quả của GnRH agonist đè nén chức năng GnRH agonist, là biến số thích hợp. buồng trứng trên những phụ nữ hóa trị ung thư vú còn bàn cãi. Các tác giả không báo cáo tình trạng kinh nguyệt, điều này có ý nghĩa vì bệnh nhân trẻ quanh Một số phân tích hậu kiểm cho thấy tăng tỉ lệ có mãn kinh thường có kinh không đều đặn. kinh lại ở những phụ nữ điều trị GnRH agonist có hóa trị so với những người chỉ hóa trị, trong khi các Cuối cùng, tính hợp lý về sinh học của liệu pháp báo cáo khác không thấy sự khác biệt. Các kết quả này bị thiếu. Mức độ Gonadotropin không bị đè nén hỗn hợp này có thể do những khác biệt về hoàn toàn với liều thuốc sử dụng trong nghiên cứu tiêu chuẩn, sử dụng tamoxifen, thời gian theo dõi bắt đầu 1 tuần trước khi hóa trị. Hơn nữa, các nang (12 tháng hoặc lâu hơn) giữa các nghiên cứu. trứng nguyên thủy sẽ tạo nên dự trữ buồng trứng, không có thụ thể FSH hoặc GnRH agonist và do đó Một nghiên cứu năm 2015 cho thấy nếu điều trị không đáp ứng với bất kỳ sự lôi kéo về nội tiết nào. với GnRHagonist goserelin bảo tồn chức năng buồng trứng ở phụ nữ ung thư vú có hóa trị, nhưng Không rõ lý do tại sao đè nén GnRH sẽ kéo dài còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu thực hiện ngẫu sống còn không bệnh ở bệnh nhân thụ thể nội tiết nhiên trên 218 phụ nữ ung thư vú tiền mãn kinh mổ âm. Giải thích có thể là do các thay đổi lúc mang được, thụ thể nội tiết âm được hóa trị tiêu chuẩn có thai; và không phải do GnRH agonist, kéo dài sống hay không phối hợp goserelin. Kết quả ban đầu quy còn. Trước khi sử dụng GnRH agonists cho mục về chức năng buồng trứng, đo lường bằng có kinh đích này cần chứng minh rõ hơn. 32 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  6. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Phụ nữ với các bệnh lý khác CÁC PHƯƠNG PHÁP THAY THẾ Tương tự với bệnh nhân ung thư vú, khuyến Cấy ghép mô buồng trứng cáo các bệnh nhân nữ có hóa trị do các chỉ định Ghép có thể gồm tự thân khác chỗ với buồng khác nên thực hiện các kỹ thuật trữ đông. Không trứng tươi hoặc rã đông, hoặc ghép không tự thân khuyến cáo sử dụng GnRH đè nén để bảo tồn buồng cùng vị trí buồng trứng hoặc mô buồng trứng tươi. trứng ở bệnh nhên nữ vì các nghiên cứu báo báo Ghép mô buồng trứng là một kỹ thuật dễ hơn ghép không có sự cải thiện về tỉ lệ có thai sau điều trị toàn bộ buồng trứng vì phương pháp thứ hai đòi hỏi GnRH agonist. Nhiều dữ liệu thiết lập tính an toàn và kỹ thuật vi mạch máu cao hơn. Nếu chưa có ngay kỹ hiệu quả của điều trị đồng thời GnRH agonist là cần thuật để trữ lạnh toàn bộ buồng trứng. thiết. Ghép tự thân khác vị trí Mặc dù 2 phân tích hậu kiểm báo cáo tỉ lệ suy buồng trứng thấp hơn ở phụ nữ điều trị GnRH Mô buồng trứng hoặc toàn bộ buồng trứng agonist và hóa trị so với hóa trị tiêu chuẩn, các được cấy ghép dưới da dưới cẳng tay, da bụng thấp nghiên cứu này bị giới hạn do gồm nhiều phác đồ hoặc thành ngực; vị trí tối ưu không được xác định. thuốc khác nhau. Hơn nữa, tỉ lệ mang thai không Mang thai lần đầu diễn tiến sau ghép khác vị trí với được cải thiện. Một phân tích hậu kiểm lớn khác mô buồng trứng trữ đông được báo cáo ở 1 bệnh gồm 10 nghiên cứu ngẫu nhiên, bệnh nhân điều trị nhân trước đó được cắt buồng trứng 2 bên vì bướu với GnRH agonist và hóa trị tiêu chuẩn không cải tế bào hạt. Sau ghép mô buồng trứng rã đông vào thiện chức năng buồng trứng so với nữ không điều thành ngực trước, bệnh nhân đã được kích thích trị GnRH agonist (68 so với 60%, RR 1,12, 95% CI buồng trứng với 2 noãn thu được sau đó thực hiện 0,99-1,27). Quan trọng nhất, không có sự khác biệt IVF với ICSI. và tỉ lệ mang thai tự nhiên giữa nhóm điều trị kết hợp Ở bệnh nhân hóa trị, ghép tự thân khác vị trí và nhóm chỉ hóa trị. (RR 1,63, 95% CI 0,94-2,82). buồng trứng hoặc mô buồng trứng tươi sẽ không Ngoài ra, không có sự khác biệt giữa điều trị GnRH agonist và không điều trị khi phân tích phân nhóm hữu ích vì hiệu quả của hóa trị là toàn thân. theo loại bệnh ác tính, tuổi bệnh nhân, loại GnRH Tuy nhiên ghép mô buồng trứng đông lạnh tự thân khác vị trí sẽ là chọn lựa ở những bệnh nhân này. Vì agonist. Khi phân tích các dấu ấn dự trữ buồng tuổi thọ của mô ghép này có giới hạn, tiến trình ghép trứng, bao gồm FSH, số nang trứng thứ phát, anti- tự thân của mô buồng trứng đông lạnh sẽ không nên müllerian hormone, không có lợi ích cho đồng điều thực hiện đến khi bệnh nhân sẵn sàng mang thai. trị GnRH agonist. Điều này cần 2-3 tháng trước khi ghép mô buồng Hơn nữa, điều trị kết hợp với GnRH agonist và trứng để bắt đầu chức năng. Ghép tự thân khác vị trí ức chế hormon không ưu thế hơn chỉ ức chế hormon lần thứ hai có thể thực hiện nếu chức năng buồng trong bảo vệ rối loạn chức năng buồng trứng. trứng suy. Phụ nữ có rong kinh Ngoài các tình huống lâm sàng đã nêu, ghép khác vị trí có thể sử dụng trong Mặc dù không sử dụng thường quy GnRH agonists để bảo tồn chức năng buồng trứng ở bệnh  Khi có nguy cơ cao di căn xa, hoặc bệnh nhân có hóa trị, khuyến cáo sử dụng GnRH agonists tái phát. Ở những bệnh nhân như thế, mô buồng để phòng ngừa rong kinh ở bệnh nhân nữ có nguy trứng cần đặt ở một vị trí có thể bảo vệ khỏi gieo rắc cơ rong kinh cao do giảm tiểu cầu do hóa trị. Nếu có tại chỗ của bướu và dễ dàng theo dõi và được lấy thể, GnRH agonist nên bắt đầu ít nhất 2 tuần hoặc 3 đi khi cần. tuần trước khi hóa trị cho phép đủ thời gian để điều  Trong một vùng chậu không thích hợp cho chỉnh xuống và tránh bất kỳ hiện tượng xuất huyết ghép đúng vị trí do xạ trị trước đó hoặc tạo sẹo do bùng phát và tiếp tục đến khi kết thúc hóa trị. Các nghiêm trọng. tác dụng phụ gồm cơn bốc hỏa và khô âm đạo.  Khi chi phí và sự xâm lấn tại đúng vị trí cấy Các mối quan tâm ghép là vấn đề cần quan tâm. Tính an toàn của sử dụng GnRH agonists ở  Khi cần chích trực tiếp các tác nhân vào mô bệnh nhân chưa được thiết lập. Vì các thụ thể GnRH buồng trứng ghép để tăng sự sống còn mô ghép. biểu lộ bằng nhiều cách trong ung thư và có các hiệu quả gián tiếp (như ức chế tăng sinh, gây ra ngừng Ghép đúng vị trí không tự thân chu kỳ tế bào, ức chế chết tế bào theo lập trình), có thể việc điều trị GnRH agonist đồng thời với hóa trị Có thuận lợi về mạch máu nội tại và hệ thống sẽ làm giảm hiệu quả của công cụ hóa trị. thần kinh để giúp bảo tồn chức năng của mô ghép buồng trứng hoặc buồng trứng tươi. TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 33
  7. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Hiến tặng trứng có thể thực tế hơn khi ghép với estrogen, đặc biệt khi tiếp xúc với nồng độ buồng trứng không tự thân vì 2 bất lợi chính của estrogen cao. tiếp cận này Vì lý do này, khuyến cáo bệnh nhân ung thư vú  Khi mô buồng trứng lấy đi từ 1 người hiến, nên được tiếp xúc tối thiểu estrogen trong quá trình người hiến có nguy cơ cao suy buồng trứng chưa bảo tồn sinh sản. 2 tác nhân thường được sử dụng trưởng thành. để kích thích buồng trứng có kiểm soát ở những  Có ít ứng cử viên cho tiến trình này vì cần xác bệnh nhân này là letrozole và tamoxifen. Bệnh nhân định miễn dịch của người hiến. ung thư vú có kích thích buồng trứng với các tác nhân này dường như không có nguy cơ gia tăng tái Một trong các yếu tố giới hạn sự thành công phát hoặc tử vong, nhưng dữ liệu bị giới hạn. trong ghép mô buồng trứng là mất khối nang trứng trong pha tái cấu trúc mạch máu. Một nghiên cứu sử Ức chế aromatase: Ức chế aromatase (như dụng sphingosine-1-phosphate (S1P) có thể làm letrozole) kết hợp với gonadotropin nổi lên như một tăng tốc cấu trúc mạch máu mô ghép và cải thiện có chất kích thích buồng trứng mới khi thực hiện IVF ở ý nghĩa sống còn nang trứng. Nghiên cứu khác cho bệnh nhân ung thư vú. Thuận lợi của kích thích thấy điều trị ghép buồng trứng với huyết tương giàu buồng trứng với ức chế aromatase là nồng độ tiểu cầu hoặc làm mát 5 độ Celsius trong 24 giờ estradiol đỉnh gần với các chu kỳ bình thường. trước khi trữ lạnh có lợi ích cho trữ lạnh mô buồng Khuyến cáo protocol letrozole-follicle stimulating trứng người. hormone (FSH) cho bệnh nhân ung thư vú sẽ được Các hướng tương lai thực hiện IVF cho trữ lạnh phôi hoặc noãn vì các kết quả kết hợp cho thấy tiếp xúc estradiol thấp và phục Ghép tử cung: Ghép tử cung có thể có lợi ích hồi trứng cao; do đó về lý thuyết, các thuốc này sẽ cho bệnh nhân có điều trị làm tổn thương tử cung (ví có tính an toàn cao. Anastrozole có vẻ làm cho dụ: xạ trị vùng chậu) hoặc cho phụ nữ có bất thường estradiol tăng cao hơn letrozole. tử cung bẩm sinh. Tuy nhiên kỹ thuật này đang thực nghiệm và không phải không có nguy cơ.  Hiệu quả: Hiệu quả và giá trị của protocol letrozole-FSH để kích thích buồng trứng được phác CÁC VẤN ĐỀ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ thảo trong một nghiên cứu tiền cứu so sánh Với bệnh nhân mong muốn có thai trong tương letrozole/ liều thấp- FSH (LetFSH-IVF), lai, giới thiệu bệnh nhân đến chuyên gia nội tiết sinh tamoxifen/liều thấp - FSH (TamFSH-IVF), và chỉ sản càng sớm càng tốt khi ung thư vú được chẩn tamoxifen. LetFSH-IVF có kết quả sản lượng phôi đoán để các can thiệp bảo tồn chức năng sinh sản cao nhất (5,3 ± 0,8 so với 3,8 ± 0,8 với TamFSH-IVF thực hiện được trong khi tối thiểu hóa bất kỳ trì hoãn và 1,3 ± 0,2 với Tam-IVF) và mức độ đỉnh estradiol nào giữa chẩn đoán và bắt đầu điều trị. Một số quy thấp nhất (380 ± 57 so với 419 ± 39 với Tam-IVF và trình cần 2-3 tuần để hoàn tất; về lý tưởng, các quá 1182 ± 271pg/mL với TamFSH-IVF). trình bảo tồn sinh sản có thể thực hiện trong thời Các nghiên cứu sau đó chứng minh rằng kích gian giữa phẫu thuật và bắt đầu hóa trị. thích letrozole/ FSH giảm gonadotropin khoảng 44% Kích thích buồng trứng: Có khoảng thời gian so với nhóm chứng hồi cứu ghép cặp tuổi. Độ dài trống điển hình khoảng 4-6 tuần sau phẫu thuật ung của kích thích, số phôi đạt được và tỉ lệ sinh sản thư vú và bắt đầu hóa trị. Mặc dù noãn có thể lấy tương tự giữa 2 nhóm. suốt 1 chu kỳ tự nhiên, sản lượng cực kỳ thấp Sử dụng một GnRH agonist làm khởi phát việc do vậy kích thích buồng trứng có kiểm soát được tăng sản lượng các noãn trưởng thành và phôi trong thực hiện thường quy. Khoảng thời gian 4-6 tuần là các chu kỳ ức chế aromatase; giảm tiếp xúc đủ để hoàn tất 1 chu kỳ kích thích và lấy trứng. Thúc estradiol sau đó, cũng như nguy cơ hội chứng kích đẩy bệnh nhân đến chuyên gia nội tiết sinh sản có thích quá mức ở bệnh nhân ung thư vú. thể cho phép thời gian đủ cho 2 chu kỳ, kết quả là tăng số lượng các trứng đạt được để trữ lạnh trứng  Tính an toàn: Tính an toàn của protocol hoặc phôi. letrozole-FSH được mô tả trong một nghiên cứu tiền cứu 215 bệnh nhân ung thư vú trong đó 79 bệnh Các protocol kích thích buồng trứng cổ điển nhân được chọn kích thích buồng trứng có kiểm soát thường cho kết quả mức độ estradiol cao gấp 10 lần với letrozole và gonadotropins và 136 bệnh nhân so với chu kỳ bình thường. Đây là một mối quan tâm không thực hiện bảo tồn chức năng sinh sản (nhóm ở bệnh nhân ung thư vú có các tế bào có thụ thể chứng). Mặc dù thời gian giữa phẫu thuật và bắt đầu estrogen dương tính. Ngay cả bệnh nhân ung thư vú hóa trị dài hơn bệnh nhân làm IVF so với những thụ thể estrogen âm tính cũng có thể đáp ứng người không thực hiện (trung bình 45 so với 34 34 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  8. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU ngày), hazard ratio cho tái phát của bệnh nhân thực toàn của tamoxifen trong kích thích buồng trứng ở hiện IVF là 0,56 (95% CI 0,17-1,9); sống còn không bệnh nhân ung thư vú và sau đó so sánh các khác biệt có ý nghĩa so với nhóm chứng. kết quả này với một nghiên cứu hồi cứu có chu kỳ IVF tự nhiên. Bệnh nhân được kích thích với Nhóm tương tự sau đó được thực hiện một tamoxifen có các chu kỳ bị hủy thấp hơn (1/15 so với nghiên cứu đánh giá tính an toàn và tính khả thi của 4/9), và số trứng trưởng thành cao hơn (1,6 ± 0,3 so việc cho phép 2 chu kỳ kích thích buồng trứng với 0,7 ± 0,2 trong nhóm chứng) và tổng số phôi liên tiếp ở bệnh nhân ung thư vú. Sản lượng noãn (1,6 ± 0,3 so với 0,6 ± 0,2 trong nhóm chứng). của 2 chu kỳ cao hơn 1 chu kỳ (16 so với 9) và phôi Trong 12/12 bệnh nhân được kích thích với phát sinh (6,4 so với 3,7), không kéo dài có ý nghĩa tamoxifen, một phôi có thể được tạo ra; ngược lại, khoảng thời gian từ phẫu thuật đến khi hóa trị (64 so chu kỳ IVF tự nhiên có kết quả tạo phôi chỉ trong 3 với 58 ngày). Tỉ lệ tái phát sau khoảng thời gian bệnh nhân. Mặc dù nồng độ đỉnh estradiol trong theo dõi trung bình 59 tháng tương tự giữa 2 nhóm nhóm tamoxifen cao hơn nhóm chứng không kích (0/17 bệnh nhân 2 chu kỳ so với 2/49 bệnh nhân thích, tỉ lệ tái phát ung thư không tăng sau thời gian 1 chu kỳ). theo dõi trung bình 2 năm.  Tỉ lệ có thai: Trong 1 nghiên cứu 131 bệnh Các chọn lựa cho bệnh nhân không thể thực nhân ung thư vú ≤ giai đoạn 3 được kích thích hiện kích thích buồng trứng: Với bệnh nhân ung buồng trứng với letrozole để bảo tồn sinh sản, tỉ lệ thư vú có bướu lớn hoặc tiến triển tại chỗ (như dạng sinh sống tương tự với 33 bệnh nhân cố gắng viêm), hóa trị tân hỗ trợ cần bắt đầu ngay lập tức chuyển phôi so với dữ liệu ghép cặp tuổi và năm. sau khi chẩn đoán và trước khi phẫu thuật. Khi kích 17/33 bệnh nhân có ít nhất 1 trẻ sinh sống cho tỉ lệ thích buồng trứng không thể vì thời gian và vấn đề bảo tồn sinh sản 51,5% trên mỗi phụ nữ cố gắng có an toàn, thu hoạch trứng chưa trưởng thành là một thai. Tuổi trung bình bệnh nhân ở thời điểm chọn lựa. kích thích buồng trứng là 35,8 ± 4,1 tuổi và tuổi trung bình bệnh nhân tại thời điểm trữ lạnh phôi chuyển là Người mang BRCA và các bệnh nhân khác có 41,5 ± 4,3 tuổi. Trung vị thời gian từ lúc bắt đầu các hội chứng ung thư vú-buồng trứng di truyền điều trị đến khi chuyển phôi là 5,25 năm. Hơn phân không là các ứng cử viên tối ưu cho trữ lạnh mô nửa số trường hợp có mang thai hộ. Không có buồng trứng để cấy ghép sau đó, vì nguy cơ phát bất thường bẩm sinh hoặc di tật nào được báo cáo triển ung thư buồng trứng và xuất độ cao ung thư trong 25 trẻ em sau thời gian theo dõi trung bình buồng trứng. 40,4 ± 26,4 tháng. Hiệu quả của đè nén gonadal còn bàn cãi. Một vấn đề quan tâm trong ung thư vú là người TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO mang đột biến gen BRCA1 là những bệnh nhân có tỉ lệ đáp ứng letrozole-FSH thấp hơn những người Tất cả các bệnh nhân cần cân nhắc điều trị độc không đột biến (3 so với 33%), và tạo ra trứng ít hơn sinh dục hoặc phẫu thuật cắt bỏ sinh dục và có (7 so với 12). Nhiều nghiên cứu cho thấy người mong muốn sinh sản trong tương lai cần được khám mang đột biến BRCA mãn kinh sớm hơn người với chuyên gia nội tiết sinh sản để thảo luận về các không đột biến. Ngoài ra, một nghiên cứu cho thấy chọn lựa bảo tồn sinh sản. bệnh nhân có đột biến BRCA1 đặc biệt có mức độ Phương pháp được ưa chuộng nhất để bảo tồn anti-Müllerian hormone (AMH) và số lượng các nang khả năng có con ở phụ nữ có nguy cơ suy sinh dục trứng nguyên thủy thấp hơn. Nghiên cứu tương tự là trữ lạnh phôi. Khuyến cáo việc trữ lạnh phôi này cho thấy khiếm khuyết sửa chữa DNA ở người có cho tất cả bệnh nhân thích hợp hơn trữ lạnh trứng trứng đột biến BRCA dễ bị tổn thương với các kích hoặc các kỹ thuật khác. ứng độc gen (như gốc oxy hóa và hóa trị), giải thích cơ chế giảm dự trữ buồng trứng ở những người Khi không thể trữ lạnh phôi, trữ lạnh trứng mang đột biến BRCA. Trong một nghiên cứu cắt trưởng thành trong ống nghiệm là một chọn lựa ngang trên gần 700 bệnh nhân, mức độ AMH ở hợp lý. người mang đột biến BRCA1 là 25% thấp hơn so với Trữ lạnh mô buồng trứng đang nghiên cứu, không đột biến. không có sẵn rộng rãi, hiệu quả không chắc chắn. Tamoxifen: Tamoxifen, điều hòa thụ thể Tuy nhiên, số lượng mang thai do kỹ thuật này đang estrogen chọn lọc với hoạt động trên mô vú, có hiệu tăng. Có sự thuận lợi của bảo tồn chức năng nội tiết quả bằng clomiphene citrate trong điều trị vô sinh buồng trứng cũng như khả năng có thai. Trữ lạnh không rụng trứng và do đó dường như có lợi cho mô buồng trứng không phải là chọn lựa cho bệnh bệnh nhân ung thư vú. Điều này được mô tả trong nhân ung thư buồng trứng hoặc có nguy cơ phát một nghiên cứu tiền cứu xem xét tính hiệu quả và an triển ung thư buồng trứng cao. TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 35
  9. NHI - PHỤ KHOA - NIỆU Nếu trữ lạnh phôi hoặc trứng không khả thi, các maturity in women with malignancy. Fertil Steril chọn lựa thay thế để bảo tồn sinh sản thay đổi dựa 2011; 96:122. trên điều trị dự kiến. 7. Knopman JM, Noyes N, Talebian S, et al. Với bệnh nhân dự kiến xạ trị mà không hóa trị, Women with cancer undergoing ART for fertility chuyển vị buồng trứng ra khỏi trường chiếu xạ có preservation: a cohort study of their response to thể thực hiện. exogenous gonadotropins. Fertil Steril 2009; 91:1476. Với bệnh nhân hóa trị, khuyến cáo không sử dụng gonadotropin-releasing hormone (GnRH) 8. Robertson AD, Missmer SA, Ginsburg ES. agonist để bảo tồn chức năng sinh sản (Grade 2C). Embryo yield after in vitro fertilization in women Mặc dù một số thầy thuốc sử dụng điều trị này, bệnh undergoing embryo banking for fertility nhân phải hiểu rằng lợi ích không được chứng minh preservation before chemotherapy. Fertil Steril và có nguy cơ trên lý thuyết. 2011; 95:588. Hiến tặng trứng và sử dụng người mang thai hộ 9. Pal L, Leykin L, Schifren JL, et al. Malignancy hoặc thay thế là các phương pháp thành công để may adversely influence the quality and điều trị vô sinh do suy cơ quan ở phụ nữ. behaviour of oocytes. Hum Reprod 1998; 13:1837. TÀI LIỆU THAM KHẢO 10. Quintero RB, Helmer A, Huang JQ, Westphal 1. Logan S, Perz J, Ussher J, et al. Clinician LM. Ovarian stimulation for fertility preservation provision of oncofertility support in cancer in patients with cancer. Fertil Steril 2010; 93:865. patients of a reproductive age: A systematic review. Psychooncology 2018; 27:748. 11. Domingo J, Guillén V, Ayllón Y, et al. Ovarian response to controlled ovarian hyperstimulation 2. Oktay K, Harvey BE, Partridge AH, et al. Fertility in cancer patients is diminished even before Preservation in Patients With Cancer: ASCO oncological treatment. Fertil Steril 2012; 97:930. Clinical Practice Guideline Update. J Clin Oncol 2018; 36:1994. 12. Almog B, Azem F, Gordon D, et al. Effects of cancer on ovarian response in controlled ovarian 3. McCray DK, Simpson AB, Flyckt R, et al. Fertility stimulation for fertility preservation. Fertil Steril in Women of Reproductive Age After Breast 2012; 98:957. Cancer Treatment: Practice Patterns and Outcomes. Ann Surg Oncol 2016; 23:3175. 13. Nurudeen SK, Douglas NC, Mahany EL, et al. Fertility Preservation Decisions Among Newly 4. The Practice Committee of the American Society Diagnosed Oncology Patients: A Single-Center for Reproductive Medicine. Fertility preservation Experience. Am J Clin Oncol 2016; 39:154. in patients undergoing gonadotoxic therapy or gonadectomy: a committee opinion. Fertil Steril 14. Taylan E, Oktay KH. Current state and 2013; 100:1214. controversies in fertility preservation in women with breast cancer. World J Clin Oncol 2017; 5. The Ethics Committee of the American Society 8:241. for Reproductive Medicine. Fertility preservation and reproduction in patients facing gonadotoxic 15. Centers for Disease Control and Prevention. therapies: a committee opinion. Fertil Steril 2013; Assisted Reproductive Technology. 2008 100:1224. Assisted Reproductive Technology Report. http://www.cdc.gov/art/ART2008/section3.htm 6. Das M, Shehata F, Moria A, et al. Ovarian (Accessed on May 17, 2011). reserve, response to gonadotropins, and oocyte 36 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

Macrophage inhibitory cytokine 1 (MIC-1/GDF15) as a novel diagnostic serum biomarker in pancreatic ductal adenocarcinoma

Macrophage inhibitory cytokine 1 (MIC-1/GDF15) has been identified as a potential novel biomarker for detection of pancreatic cancer (PCa). However, the diagnostic value of serum MIC-1 for pancreatic ductal adenocarcinoma (PDAC), particularly for those at the early stage, and the value for treatment response monitoring have not yet been investigated.


Detection of infectious organisms in archival prostate cancer tissues

Seroepidemiological studies have reported associations between exposure to sexually transmitted organisms and prostate cancer risk. This study sought DNA evidence of candidate organisms in archival prostate cancer tissues with the aim of assessing if a subset of these cancers show any association with common genital infections.


Elevated levels of plasma D-dimer predict a worse outcome in patients with nasopharyngeal carcinoma

Hemostatic alterations occur during the development of cancer. Plasma D-dimer is a hypercoagulability and fibrinolytic system marker that is increased in patients with various solid tumours. The aim of this study was to evaluate the hemostatic status of nasopharyngeal carcinoma (NPC) patients by assessing plasma D-dimer levels to investigate its value as a prognostic marker.


A validated score estimating ambulatory status following radiotherapy of elderly patients for metastatic spinal cord compression

This study was performed to develop a validated score predicting ambulatory status after radiotherapy (RT) alone for metastatic spinal cord compression (MSCC) in elderly patients. Patients achieving 19-25 points had very poor functional outcomes and survival, and may receive single-fraction RT for pain relief.


A longitudinal study investigating quality of life and nutritional outcomes in advanced cancer patients receiving home parenteral nutrition

In cancer patients where gastrointestinal function is marginal and malnutrition significant enough to result in the requirement for intensive nutrition support, parenteral nutrition (PN) is indicated. This longitudinal study examined the quality of life (QoL) and nutritional outcomes in advanced cancer patients receiving home PN (HPN).


The radiosensitising effect of gemcitabine and its main metabolite dFdU under low oxygen conditions is in vitro not dependent on functional HIF-1 protein

Regions within solid tumours often experience oxygen deprivation, which is associated with resistance to chemotherapy and irradiation. The aim of this study was to evaluate the radiosensitising effect of gemcitabine and its main metabolite dFdU under normoxia versus hypoxia and to determine whether hypoxia-inducible factor 1 (HIF-1) is involved in the radiosensitising mechanism.


Regional variation in breast cancer treatment in the Netherlands and the role of external peer review: A cohort study comprising 63,516 women

Treatment variation is an important issue in health care provision. An external peer review programme for multidisciplinary cancer care was introduced in 1994 in the Netherlands to improve the multidisciplinary organisation of cancer care in hospitals.


Variable NF-κB pathway responses in colon cancer cells treated with chemotherapeutic drugs

The nuclear factor kappa-light-chain-enhancer of activated B cells (NF-κB) signaling pathway is activated in cells exposed to various stimuli, including those originating on the cell surface or in the nucleus. Activated NF-κB signaling is thought to enhance cell survival in response to these stimuli, which include chemotherapy and radiation.


Correlation between ERK1 and STAT3 expression and chemoresistance in patients with conventional osteosarcoma

The standard therapy regimen of conventional osteosarcoma includes neoadjuvant chemotherapy followed by surgical resection and postoperative chemotherapy. The percentage of necrotic tissue following induction chemotherapy is assessed by using the Huvos grading system, which classifies patients as “poor responders” (PR) and “good responders” (GR).


Lack of treatment-related mortality definitions in clinical trials of children, adolescents and young adults with lymphomas, solid tumors and brain tumors: A systematic review

There is a lack of standardized definition for treatment-related mortality (TRM), which represents an important endpoint in cancer. Our objective was to describe TRM definitions used in studies of children, adolescents and young adults with lymphomas, solid tumors and brain tumors.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu