Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ảnh hưởng của bão ở Việt Nam thời kỳ 1961-2014

Báo cáo này trình bày kết quả đánh giá đặc điểm ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới ở Việt Nam dựa trên tập số liệu quan trắc bão thời kỳ 1961-2014, bao gồm những cơn bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đã đổ bộ vào đất liền, những cơn tan ở vùng khơi ven bờ hoặc đi gần biên giới Việt Nam với khoảng cách khoảng 100km.



Đánh giá tài liệu

4.9 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Ảnh hưởng của bão ở Việt Nam thời kỳ 1961-2014 Ảnh hưởng của bão ở Việt Nam thời kỳ 1961-2014 Ảnh hưởng của bão, Xoáy thuận nhiệt đới, Ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới, Áp thấp nhiệt đới, Tần số bão
4.9 5 200
  • 5 - Rất hữu ích 182

  • 4 - Tốt 18

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 3S (2016) 210-216

Ảnh hưởng của bão ở Việt Nam thời kỳ 1961-2014
Nguyễn Văn Thắng1,*, Mai Văn Khiêm1, Nguyễn Trọng Hiệu2
Vũ Văn Thăng1, Nguyễn Đăng Mậu1, Lã Thị Tuyết1
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu,
Số 23/62 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
2
Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng Thủy văn và Môi trường
1

Nhận ngày 08 tháng 8 năm 2016
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 8 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 12 năm 2016
Tóm tắt: Báo cáo này trình bày kết quả đánh giá đặc điểm ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới
ở Việt Nam dựa trên tập số liệu quan trắc bão thời kỳ 1961-2014, bao gồm những cơn bão, áp thấp
nhiệt đới (ATNĐ) đã đổ bộ vào đất liền, những cơn tan ở vùng khơi ven bờ hoặc đi gần biên giới
Việt Nam với khoảng cách khoảng 100km. Những đặc điểm được đánh giá bao gồm đặc điểm về
thời gian ảnh hưởng, đặc điểm về tần số ảnh hưởng, đặc điểm về tốc độ gió lớn nhất trong bão, đặc
điểm vể mưa bão và xu thế bão. Kết quả cho thấy, khu vực ven biển từ Quảng Ninh đến Thanh
Hóa có thời gian bão ảnh hưởng sớm nhất và có tần số bão ảnh hưởng lớn nhất trong cả nước. Gió
bão mạnh nhất quan trắc được đạt cấp 15-16 ở các khu vực từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế.
Lượng mưa quan trắc trung bình một đợt bão cao nhất ở khu vực Nghệ An đến Thừa Thiên Huế.
Giữa các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam có những sự khác nhau khá rõ về cường độ mưa
lớn và gió mạnh trong bão khi bão đổ bộ và ảnh hưởng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để phân
vùng ảnh hưởng của bão phục vụ xây dựng, chuẩn bị các phương án ứng phó ở các địa phương.
Từ khóa: Xoáy thuận nhiệt đới, ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới, Việt Nam.

1. Mở đầu *

rộng trên một hay nhiều khu vực thuộc lãnh thổ
nước ta. Như vậy, những cơn bão hoặc đổ bộ
hoặc tan ven bờ biển Việt Nam nhưng gây gió
mạnh trên cấp 6 hoặc không đổ bộ vào Việt
Nam mà đổ bộ vào vùng ven biển Quảng Tây
hoặc phía đông tỉnh Quảng Đông Trung Quốc
sau đó di chuyển về phía Tây gây gió mạnh
dưới cấp 6 và mưa diện rộng cho vùng biên giới
Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam đều được coi
là bão ảnh hưởng Việt Nam.
Đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam về đặc
điểm ảnh hưởng của bão. Theo Nguyễn Văn
Khánh và Phạm Đình Thụy (1985 ) có 72 cơn
bão, ATNĐ đổ bộ vào miền Bắc thời kỳ 19561980 với phạm vi gió mạnh cấp 6 trở lên là
khoảng vài trăm km xung quanh tâm bão,

Ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới
(sau đây gọi tắt là bão) đến Việt Nam là những
cơn bão có tác động làm thay đổi hoàn toàn
hiện tượng thời tiết (gió, mây, mưa) trên một
khu vực hoặc nhiều khu vực thuộc lãnh thổ
nước ta. Bão có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nước ta. Bão ảnh hưởng trực tiếp
là bão gây gió mạnh từ cấp 6 trở lên cho một
hay nhiều khu vực. Bão ảnh hưởng gián tiếp là
bão chỉ gây gió mạnh dưới cấp 6 nhưng làm
thay đổi thời tiết, đặc biệt gây mưa lớn diện

_______
*

Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-903475488
Email: nvthang.62@gmail.com

210

N.V. Thắng và nnk./ Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 3S (2016) 210-216

ATNĐ [1]. Các kết quả nghiên cứu cho thấy
bão hoạt động nhiều nhất về số lượng và mạnh
nhất về cường độ ở vùng bờ biển Bắc Bộ, hoạt
động ít nhất ở các vùng bờ biển Ninh Thuận Bình Thuận, Nam Bộ (Trần Việt Liễn và nnk,
1990; Nguyễn Đức Ngữ và nnk, 2001; Phan
Văn Tân và nnk, 2010,..) [2, 3, 4]. Nguyễn Đức
Ngữ (2010) nghiên cứu đặc điểm bão dựa trên
số liệu quan trắc cho thấy trung bình mỗi năm
nước ta chịu ảnh hưởng của trên 7 cơn bão và
ATNĐ. Thời gian bão ảnh hưởng đến Việt Nam
kéo dài từ tháng 3 đến tháng 12 trong đó các
tháng 6-10 có tần suất đáng kể, đặc biệt trong 3
tháng 8-10 có tần suất lớn. Nghiên cứu cũng
xác định các vùng ảnh hưởng của bãodựa trên
các tiêu chí như ba tháng nhiều bão nhất, số cơn
bão trung bình năm, gió bão mạnh nhất và
lượng mưa trung bình một đợt bão. Nguyễn
Văn Thắng và nnk (2010) phân tích hoạt động
của bão ở các đoạn bờ biển cho thấy, trong thời
kỳ gần đây tần suất của bão trên đa số đoạn bờ
biển phía Bắc bao gồm Bắc Bộ, Thanh Hóa đến
Thừa Thiên Huế có xu thế giảm, trong khi phía
Nam, bao gồm Đà Nẵng - Bình Định, Phú Yên
- Bình Thuận, Nam Bộ có xu thế tăng [5]. So
với thời kỳ 1961-1990 mùa bão trung bình
trong thời kỳ gần đây bắt đầu sớm và kết thúc
muộn hơn.
Năm 2016, Viện Khoa học Khí tượng Thủy
văn và Biến đổi khí hậu được giao chủ trì thực
hiện cập nhật, ban hành phân vùng bão, trong
đó có phân vùng gió cho các vùng ở sâu trong

211

đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ. Trong đó,
một trong những nội dung quan trọng là rà soát,
đánh giá lại ảnh hưởng của bão theo số liệu cập
nhật mới nhất, đồng thời kết hợp các nguồn số
liệu bão của Việt Nam và quốc tế. Bài báo này
giới thiệu một phần kết quả của nhiệm vụ nêu
trên, trọng tâm là phân tích, đánh giá những đặc
điểm về thời gian, tần số, đặc điểm về gió
mạnh, xu thế bão ở Việt Nam dựa trên số liệu
quan trắc bão thời kỳ 1961-2014.

2. Số liệu và cấu hình thực nghiệm
2.1. Số liệu
Số liệu được sử dụng gồm: bản đồ đường đi
của bão thời kỳ 1961-2014, báo cáo đặc điểm
Khí tượng Thủy văn hàng năm của Trung tâm
Khí tượng Thủy văn quốc gia. Báo cáo tổng kết
đề tài cấp Bộ năm 2004 “Xây dựng cơ sở dữ
liệu bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực Biển
Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam” của tác giả
Dương Liên Châu. Tài liệu thống kê ảnh hưởng
của bão của các Đài Khí tượng Thủy văn khu
vực trên cả nước. Số liệu IBTrACS của Trung
tâm Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia,
Mỹ. Các bản đồ đường đi của bão của Nhật
Bản, Hồng Kông,…Số liệu tốc độ gió mạnh
nhất của 120 trạm trên cả nước vào những ngày
có bão ảnh hưởng thời kỳ 1961-2014.
K

Hình 1. Số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam thời kỳ 1961-2014.

212 N.V. Thắng và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 3S (2016) 210-216
2.2. Phương pháp
Trên cơ sở tập số liệu bão, các đặc trưng
thống kê bão sau đây được tính toán:
- Ba tháng liên tục nhiều bão nhất trong năm
- Tần số bão trong năm
- Đặc điểm gió mạnh
Bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt
Nam được xác định là những cơn đã đổ bộ vào
đất liền, những cơn tan ở ngoài khơi hoặc đi
qua gần biên giới Việt Nam (cách khoảng
100km).

3. Kết quả và thảo luận
Dưới đây sẽ phân tích chi tiết về đặc điểm
ảnh hưởng của bão đối với 8 vùng ven biển và
sâu trong đất liền: vùng Tây Bắc, vùng Đông
Bắc, vùng từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa, vùng
từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế, vùng từ Đà
Nẵng đến Bình Định, vùng từ Phú Yên đến
Ninh Thuận, vùng Tây Nguyên, và vùng từ
Bình Thuận đến Cà Mau-Kiên Giang.
3.1. Đặc điểm về thời gian ảnh hưởng
Kết quả thống kê cho thấy, trong 54 năm
qua có 364 cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam,
tập trung nhiều nhất vào tháng 9 (chiếm 23%),
sau đó là tháng 10 (chiếm 20%), tháng 8 và
tháng 11 (đều chiếm 15%), tháng 7 (chiếm
14%) (Hình 1). Tuy nhiên đối với từng vùng
lãnh thổ thì đặc điểm ảnh hưởng của bão lại
khác nhau về thời gian ảnh hưởng, tần số ảnh
hưởng và cường độ gió mạnh do bão.
So sánh thời gian ảnh hưởng của bão ở các
vùng cho thấy, 3 tháng nhiều bão nhất ở khu
vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa là các tháng
7, 8, 9 (chiểm 76%). Khu vực từ Nghệ An đến
Thừa Thiên Huế bão ảnh hưởng tập trung chủ
yếu vào 3 tháng 8, 9, 10 (chiểm 86%). Khu vực
từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận bão ảnh hưởng tập
trung chủ yếu vào 3 tháng 9, 10, 11 (chiểm
80%). Khu vực ven biển Nam Trung Bộ và
Nam Bộ (từ Bình Thuận đến Cà Mau-Kiên

Giang) bão ảnh hưởng tập trung chủ yếu vào 3
tháng 10, 11, 12 (chiểm 86%). Như vậy, thời
gian bão ảnh hưởng lùi dần từ Bắc vào Nam, ở
từng khu vực số lượng bão tập trung trong 3
tháng cao điểm đều đạt tần suất từ 76-86%.
3.2. Đặc điểm về tần số ảnh hưởng
Kết quả tính toán cho thấy, tần số bão ảnh
hưởng đến Việt Nam giảm dần từ Bắc vào
Nam, cao nhất ở Bắc Bộ và thấp nhất ở Nam
Bộ. Khu vực từ Quảng Ninh và Thanh Hóa có
tần số bão ảnh hưởng lớn nhất trên cả nước với
hơn 2 cơn bão/năm. Sau đó là khu vực từ Nghệ
An đến Thừa Thiên Huế, tần số bão ảnh hưởng
dao động từ 1,5-2,0 cơn/năm, khu vực từ Đà
Nẵng đến Bình Định là 1,0-1,5 cơn/năm. Ở khu
vực ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ, tần số
bão ảnh hưởng dưới 1 cơn một năm trong đó từ
Phú Yên đến Ninh Thuận có tần số từ 0,5-1,0
cơn/năm và từ Bình Thuận đến Cà Mau-Kiên
Giang có tần số

Tài liệu cùng danh mục Môi trường

Hướng dẫn thiết kế hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ

Kỹ thuật cấp nước cần có những giải pháp thiết kế một cách phù hợp để đáp ứng nhu cầu dùng nước của các đối tượng sử dụng với chất lượng tốt,an toàn,chắc chắn đồng thời có thể đạt những chỉ tiêu về kinh tế


Luật khoáng sản

Khoáng sản được phát sinh từ trong lòng đất và chứa trong vỏ trái đất, trên bề mặt, đáy biển và hòa tan trong nước đại dương. Khoáng sản rất đa dạng về nguồn gốc và chủng loại, được chia thành 2 nhóm chính. Khoáng sản kim loại: gồm các kim loại thường gặp và có trữ lượng lớn (nhôm, sắt, mangan, titan, magiê…) và kim loại hiếm (đồng, chì, kẽm, thiếc, vàng, bạc, bạch kim, thủy ngân, molipđen…)...


Bài giảng Kỹ thuật xử lý nước thải – Chương 3: XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA LÝ

PHƯƠNG PHÁP KEO TỤ TẠO BÔNG 3.1.1. Keo tụ và các hóa chất dung trong keo tụ Trong nước tồn tại nhiều chất lơ lửng khác nhau. Các chất này có thể dùng phương pháp xử lý khác nhau tùy vào kích thước của chúng: d 10-4 mm : dùng phương pháp lắng lọc. d gọi là phương pháp keo tụ trong xử lý nước. Để thực hiện quá trình này người ta cho vào nước các chất phản ứng thích hợp :


Nước thải phát sinh trong quá trình mạ điện chứa hàm lượng kim loại

Nước thải phát sinh trong quá trình mạ điện chứa hàm lượng kim loại nặng rất cao, là độc chất với sinh vật, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người.Nhiều ngiên cứu cho thấy, với nồng độ đủ lớn các sinh vật có thể bị chết hoặc thái hóa.Với nồng độ nhỏ, chúng có thể gây ngộ độc mãn tính hoặc tích tụ sinh học, ảnh hưởng tới sự sống của chúng về sau.


Ebook Độc học môi trường Tập 2 - Lê Huy Bá (chủ biên)

Cuốn sách Độc học môi trường Tập 2 gồm 28 chương trình bày tổng quát về độc học môi trường, độc học môi trường Dioxin, khả năng hấp thụ, ảnh hưởng của kim loại nặng đến quá trình sinh trưởng của thực vật, độc học môi trường cadmium, độc học môi trường của chì, độc học thủy ngân,...quản lý sự cố độc hại, độc học môi trường bệnh cúm gia cầm.


Nước Đức hướng tới nền kinh tế xanh

Đã có rất nhiều cảnh báo đưa ra nhấn mạnh đến nhu cầu phải phát triển những nguồn năng lượng mới, đồng thời phòng ngừa hoặc chặn đứng tình trạng suy thoái môi trường. Công nghệ để đáp ứng cả 2 nhu cầu trên chính là công nghệ sạch (CNS), được định nghĩa là những công nghệ giúp sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và không gây hại co môi trường. CNS sẽ bao gồm các công nghệ năng lượng tái tạo (NLTT) như điện mặt trời, điện gió (phong điện), nhiên liệu sinh học..., công nghệ nâng cao hiệu năng, công nghệ lưu trữ năng lượng, ô tô điện, vật liệu nano, sinh học tổng hợp...


HOANG MẠC HOÁ

Trong các nguyên nhân gây ra n n sa m c hóa, ph ạ ạ ần lớn là do tác động của con người từ khoảng 10.000 năm nay (Thế Holocen). Việc lạm dụng đất đai trong các ngành chăn nuôi gia súc, canh tác ruộng đất, phá rừng, đốt đồng, trữ nước, khai giếng, tăng lượng thổ diêm (soil salinity) và biến đổi khí hậu toàn cầu đã góp sức làm sa mạc hóa nhiều vùng trên trái đất.


Ebook Đánh giá ban đầu rủi ro môi trường Thành phố Đà Nẵng

Nội dung ebook giới thiệu về thành phố Đà Nẵng, trình bày các phương pháp đánh giá rủi ro và đánh giá hồi cổ rủi ro về tài nguyên, sinh cảnh, chất dinh dưỡng, từ đó đưa ra các khuyến nghị và đề xuất để khắc phục những rủi ro đã nêu trên.


Density and Viscosity of Water_2

Hệ thống tái chế nước của chúng tôi được sử dụng để tái chế hàng triệu gallon nước mỗi ngày. Nếu nhu cầu của bạn là để giảm chi phí, nâng cao chất lượng của rửa nước của quý vị, hoặc đơn giản hóa tuân thủ môi trường, hệ thống tái chế nước của chúng tôi có thể đáp ứng hoặc vượt quá mục tiêu của bạn.


Đề cương ôn tập biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần.


Tài liệu mới download

Đề thi casio môn hóa học
  • 04/10/2011
  • 17.773
  • 156
Luận văn Thiết kế web
  • 07/12/2012
  • 95.266
  • 930
ĐỘT QUỴ (STROKE)
  • 08/07/2011
  • 76.209
  • 901

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Natural Hybridization and Evolution
  • 11/12/2012
  • 33.431
  • 475
Phèn là gì?
  • 29/12/2010
  • 57.001
  • 415

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu