Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Nông nghiệp (23.546)

Ảnh hưởng của dịch chiết thực vật trong phòng trừ sâu hại dưa leo an toàn

Thí nghiệm sử dụng phương pháp khảo sát hiệu lực giết sâu trực tiếp; hiệu lực gây ngán ăn; hiệu lực xua đuổi; hiệu lực ức chế sinh trưởng của các dịch chiết từ hạt na, hạt gấc, hạt xoan, đối với sâu xanh sọc trắng hại dưa leo. Kết quả cho thấy cả 3 loại dịch chiết đều có hiệu lực tiêu diệt cao, trong đó dịch chiết từ hạt na có hiệu lực tiêu diệt cao nhất (đạt 92,54%), thấp nhất là dịch chiết hạt gấc (đạt 86,73%) (sau 72 giờ phun dịch chiết).


Xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E. Coli và Salmonella Spp. phân lập từ phân lợn tiêu chảy

Nghiên cứu được tiến hành nhằm kiểm tra tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.Coli và Salmonella spp. phân lập từ phân lợn bị bệnh tiêu chảy. Với 27 chủng E. coli phân lập được thì 100% các chủng E. coli kiểm tra đều mẫn cảm với Colistin và Amoxicillin. Các thuốc có tỷ lệ mẫn cảm thấp hơn là Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin, Neomycin và Enrofloxacin.


Phương án mở rộng diện tích trồng bưởi trên địa bàn huyện Đoan Hùng giai đoạn 2021-2025

Tài liệu thông tin đến các bạn phương án mở rộng diện tích trồng bưởi trên địa bàn huyện Đoan Hùng giai đoạn 2021-2025 nhằm phát triển bền vững thương hiệu bưởi đặc sản Đoan Hùng; khai thác và phát huy hết tiềm năng thế mạnh về đất đai, khí hậu, mở rộng phát triển vùng bưởi với quy mô phù hợp; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm bưởi, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người trồng bưởi, góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.


Hiệu quả sử dụng phân bón cho cây trồng qua các thời kỳ ở Việt Nam

Thông qua bài viết này, các bạn có cái nhìn tổng quan hơn về hiệu quả sử dụng phân bón cho cây trồng ở Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.


Phân tích tài chính các hệ thống canh tác phổ biến phục vụ cho việc đề xuất hệ thống canh tác thích nghi vùng bán đảo Cà Mau

Bán đảo Cà Mau là vùng xa nguồn nước ngọt, chịu ảnh hưởng mặn từ Biển Đông và biển Tây. Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế vùng này có 8 hệ thống canh tác nông nghiệp hàng năm phổ biến và 12 loại cây ăn trái, cây công nghiệp. Để lựa chọn hệ thống canh tác thích nghi cần đánh giá hai yếu tố chủ yếu là thích nghi với hệ sinh thái, và hiệu quả về mặt tài chính.


Đánh giá đặc điểm hình thái nông học tập đoàn bí đỏ địa phương

Nghiên cứu tiến hành đánh giá đặc điểm hình thái của 100 mẫu giống bí đỏ địa phương thu thập từ các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam ở vụ Đông Xuân 2016. Kết quả đánh giá cho thấy 100 mẫu giống bí đỏ địa phương đều thuộc loài Cucurbita moschata và có sự đa dạng đáng kể trong trạng thái biểu hiện của các đặc điểm về thân, lá, quả và chất lượng thịt quả. Chiều dài lóng thân biến động từ 13,2 - 30,3 cm; chiều dài lá 21,7 - 39,8 cm, rộng lá 21,4 - 35,6 cm; chiều dài quả dao động từ 9,3 - 34 cm, đường kính quả 8,5 - 28,7 cm; số quả trung bình trên cây là 0,3 - 1,9; khối lượng quả 0,59 - 4,96 kg.


Khảo sát khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzicola gây bệnh sọc trong trên lúa

Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzicola gây bệnh sọc trong trên lúa. Có 18 trong tổng số 87 chủng xạ khuẩn thí nghiệm được xác định có khả năng đối kháng với vi khuẩn gây bệnh sọc trong trên lúa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Mời các bạn tham khảo!


Nghiên cứu hoạt tính kháng một số vi khuẩn gây bệnh thực vật của các chủng xạ khuẩn phân lập ở Việt Nam

Nghiên cứu được tiến hành trên 500 chủng xạ khuẩn được phân lập ở Việt Nam, hiện đang được bảo quản tại Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật (VTCC) với mục tiêu chọn lọc được các chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với một số vi khuẩn gây bệnh thực vật. Kết quả tuyển chọn được 18 chủng có khả năng kháng Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây bệnh bạc lá lúa, 4 chủng kháng Dickyea zeae gây bệnh thối gốc và 7 chủng kháng Pseudomonas syringae gây bệnh đốm lá.


Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết chùm ngây kháng vi khuẩn vibrio spp. gây bệnh trên tôm thẻ chân trắng trong điều kiện in vitro

Nội dung bài viết trình bày hoạt tính kháng vi khuẩn Vibrio vulnificus của cao chiết từ hạt, hoa và lá chùm ngây lần lượt là 22,33 mm, 14,67 mm và 18,33 mm. Đối với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus cao chiết từ hạt, hoa và lá chùm ngây có giá trị MIC là 5 mg/mL, 10 mg/mL, 20 mg/mL; MBC là 10 mg/mL, 20 mg/mL, 40 mg/mL. Kết quả cũng xác định hiệu quả đối với vi khuẩn Vibrio vulnificus giá trị MIC của cao chiết từ hạt, hoa và lá chùm ngây là 2,5 mg/mL, 20 mg/mL, 10 mg/mL; giá trị MBC tương ứng là 5 mg/mL, 40 mg/mL, 20 mg/mL.


Nghiên cứu xác định liều lượng phân đạm và phân kali bón cho cây nho NH02-37 trồng trên đất gò đồi tại Ninh Thuận

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định liều lượng phân đạm và phân kali thích hợp cho giống nho rượu NH02-37 làm nguyên liệu chế biến vang trắng trồng trên đất gò đồi, kiểu giàn cọc rào vụ Hè Thu 2019 và Đông Xuân năm 2019 - 2020 ở Ninh Thuận. Nghiên cứu dựa trên 3 mức phân đạm: 184, 250 và 300 kg N/ha và 2 mức phân kali: 200 và 250 kg K2O/ha. Mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung chính của bài viết này!


Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch và nồng độ ethephon đến hàm lượng tổng chất rắn hòa tan và độ chắc thịt quả

Nghiên cứu được thực hiện trên 3 giống sầu riêng: Ri-6, Monthong và Chuồng bò. Kết quả ghi nhận trên giống Ri-6, thời điểm thu hoạch càng muộn và nồng độ xử lý ethephon tăng thì hàm lượng tổng chất rắn hoà tan (TCRHT) của thịt quả đều cao: thu hoạch ở 95 ngày sau đậu quả (NSĐQ) là 33,590Brix và xử lý ethephon 270 ppm là 32,390Brix. Đối với giống Chuồng bò thu hoạch ở 105 NSĐQ có hàm lượng TCRHT cao nhất (32,070Brix), các nồng độ ethephon không ảnh hưởng đến hàm lượng TCRHT. Ở giống Monthong, các thời điểm thu hoạch không ảnh hưởng đến hàm lượng TCRHT, xử lý ethephon 90 ppm có hàm lượng TCRHT cao nhất (28,280Brix).


Kết quả thử nghiệm quy trình kỹ thuật canh tác lúa tiên tiến cho vùng Đồng bằng sông Hồng

Nội dung bài viết trình bày mô hình áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác lúa tiên tiến với quy mô lớn 20 ha/vụ/điểm cho năng suất cao hơn so với mô hình canh tác lúa truyền thống của nông dân từ 8,97 - 14,02%, hiệu quả kinh tế tăng hơn so với canh tác lúa truyền thống của nông dân từ 35,12 - 47,76% tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng. Mời các bạn tham khảo!


Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống ngô lai nhập nội tại Hà Nội

Nội dung chính của bài viết trình bày kết quả đã xác định được giống ngô lai nhập nội PT8832 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thời gian sinh trưởng 106 ngày vụ Xuân và 112 ngày vụ Đông; năng suất cao (62,40 - 74,71 tạ/ha), năng suất trung bình 68,55 tạ/ha; ít nhiễm sâu đục thân, đục bắp (điểm 1), ít nhiễm bệnh khô vằn (3,8 %), ít nhiễm bệnh đốm lá lớn (điểm 1), bệnh thối thân, chống đổ tốt, chịu hạn khá, có triển vọng cho sản xuất tại Hà Nội.


Hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo hướng an toàn tại huyện An Phú, tỉnh An Giang

Nội dung chính của bài viết trình bày mô hình sản xuất lúa theo hướng an toàn tại huyện An Phú, tỉnh An Giang được bố trí tại 3 xã của huyện với 15 ruộng canh tác theo hướng an toàn không phun thuốc trừ rầy nâu, sâu cuốn lá suốt vụ, sạ thưa (mô hình) và và 15 ruộng canh theo tập quán nông dân như sạ dầy, phun thuốc khi thấy dịch hại hoặc phun định kỳ (đối chứng). Mời các bạn tham khảo!


Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống ngải đen (Kaempferia parviflora) bằng chồi củ

Nội dung bài viết trình bày thành phần giá thể đất + trấu hun (1 : 1) hoặc cát 100% cho tỷ lệ nảy mầm đạt 100%, thời gian ươm tới khi xuất vườn 45 - 46 ngày. Bổ sung chất kích thích sinh trưởng GA3 ở nồng độ 150 ppm, N3M hoặc ROOTS NEW (pha theo khuyến cáo) đều cho tỷ lệ nảy mầm cao 100%, thời gian ươm tới khi xuất vườn giảm từ 8 - 12 ngày so với đối chứng. Chế độ che bóng thích hợp là 60 - 70% cây có tỷ lệ sống sót 100%, tăng khản năng phát triển cây con. Mời các bạn tham khảo!


Định danh và hiệu quả của một số thuốc hóa học đối với tác nhân gây thối cuống trái cam sành

Nội dung bài viết trình bày kết quả nghiên cứu cho thấy trong 10 mẫu nấm phân lập, làm thuần từ vết bệnh thối cuống trái cam sành thu tại 2 huyện Tam Bình và Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, mẫu nấm TB2 có độc tính cao nhất và được định danh là Colletotrichum gloeosporioides, với tỉ lệ trùng hợp 100% dựa theo NCBI. Kết quả đánh giá hiệu quả in vitro của các loại thuốc hóa học với nấm C. gloeosporioides ghi nhận nghiệm thức xử lí Azoxystrobin + Fosetyl Aluminium + Dimethomorph cho hiệu quả ức chế nấm C. gloeosporioides cao hơn có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng.


Đánh giá sự hài lòng của nông hộ sản xuất lúa trong cánh đồng liên kết tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long

Để tìm hiểu thực trạng sản xuất và mức độ hài lòng của người dân, 145 hộ trong và ngoài CĐLK đã được phỏng vấn. Số liệu được thống kê, kiểm định T nhằm so sánh hiệu quả tài chính giữa hai nhóm hộ, áp dụng thang đo SERVPERF và phân tích hồi qui đa biến với mục tiêu đánh giá mức độ và yếu tố ảnh hưởng sự hài lòng. Kết quả cho thấy, nhóm hộ trong CĐLK đạt năng suất và lợi nhuận cao hơn (7,6% và 31,4%) so với hộ ngoài. Mời các bạn tham khảo!


Tính bền vững và hiệu quả kinh tế các mô hình sinh kế nông hộ vùng lũ đê bao khép kín tỉnh An Giang

Nghiên cứu sử dụng khung sinh kế bền vững (DFID, 1999) nhằm khám phá các yếu tố thúc đẩy và cản trở sinh kế của nông hộ, đồng thời so sách các nguồn lực sinh kế hộ trong đê và ngoài đê nhằm đề xuất những giải pháp cho cải thiện sinh kế nông hộ. Kỹ thuật tham vấn người am hiểu (KIP), thảo luận nhóm (FGD) và phỏng vấn hộ được sử dụng. 182 hộ dân trong và ngoài đê ở 02 huyện An Phú, Phú Tân và thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang được phỏng vấn. Công cụ thống kê mô tả và phân tích Anova sử dụng để thể hiện các chiến lược sinh kế, nguồn vốn sinh kế và tính tổn thương của chiến lược sinh kế.


Ảnh hưởng của các nguồn cacbon lên tăng trưởng và tỷ lệ sống trong ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) bằng công nghệ biofloc

Nghiên cứu nhằm xác định nguồn cacbon thích hợp cho tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm càng xanh. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức bổ sung các nguồn cacbon lần lượt là (i) nghiệm thức đối chứng (không bổ sung cacbon); (ii) bột gạo, (iii) cám gạo và (iv) đường cát, mật độ ương 60 con/L. Bể ương có thể tích 500 lít, độ mặn 12‰. Mời các bạn tham khảo!


Đánh giá, chọn lọc các giống măng tây mới nhập nội tại Ninh Thuận

Nội dung chính của bài viết là đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất măng của 10 giống măng tây mới nhập nội từ Mỹ, Hà Lan, Đức và Thái Lan tại Ninh Thuận từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 2 năm 2020. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên (CRBD), lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy đã chọn được 2 giống có năng suất cao và thích nghi với điều kiện Ninh Thuận. Mời các bạn tham khảo!


Ảnh hưởng của than sinh học sản xuất từ vỏ quả cà phê đến chất lượng đất và năng suất cây hồ tiêu

Bài viết đề cập đến than sinh học có thể cải thiện độ phì nhiêu của đất và năng suất cây trồng. Nghiên cứu sử dụng than sinh học từ vỏ quả cà phê bón cho cây hồ tiêu. Kết quả thí nghiệm cho thấy khi sử dụng than sinh học với lượng từ 0,5 tấn/ha đến 1,0 tấn/ha thay thế 25% lượng phân NPK có thể làm tăng số lượng cành mới từ 7,08 - 11,02% tăng số gié/trụ từ 11,83 - 14,14% và tăng năng suất hạt khô từ 1,51 - 3,32%. Bên cạnh đó, sử dụng than sinh học còn có thể giúp độ ẩm đất tăng từ 2,62 - 4,41%, tăng dung tích trao đổi cation từ 33,79% - 36,07% so với đối chứng.


Đánh giá thực trạng canh tác cam sành tại tỉnh Vĩnh Long

Bài viết trình bày việc đánh giá thực trạng canh tác cam Sành tại tỉnh Vĩnh Long được thực hiện tại huyện Trà Ôn, Tam Bình, Vũng Liêm và TP. Vĩnh Long thông qua điều tra 494 hộ trồng cam Sành từ tháng 7/2018 đến 6/2019. Kết quả cho thấy nông dân sử dụng gốc ghép cam Mật để làm gốc ghép chiếm tỷ lệ cao nhất, 89,10% ở cam Sành ruộng (CSR) và 85,88% ở cam Sành vườn (CSV). Trung bình tổng số cây/ha của các ruộng trồng cam Sành là 4.234,9 cây/ha, trong khi ở CSV được trồng với mật độ là 1.864 cây/ha.


Chế biến và sử dụng thức ăn lên men lỏng trong chăn nuôi lợn

Nội dung bài viết trình bày nghiên cứu cho thấy, thức ăn lên men lỏng có thể được chế biến cho các khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc cho từng nguyên liệu thức ăn riêng rẽ. Chất lượng của thức ăn lên men lỏng phụ thuộc vào hàm lượng axit lactic hình thành trong quá trình lên men tự nhiên hoặc nhờ giống khởi động. Mời các bạn tham khảo!


Ảnh hưởng của vôi hữu cơ từ bột vỏ trứng đến sinh trưởng và năng suất giống đậu xanh ĐX14 trồng vụ đông tại Gia Lâm, Hà Nội

ài báo này trình bày ảnh hưởng của bột vỏ trứng do công ty Green Techno21 (Nhật Bản) sản xuất đến sinh trưởng và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trồng vụ Đông 2019. Thí nghiệm gồm 05 công thức: Đối chứng không bón vôi; bón 300 kg/ha CaO; 100, 300 và 500 kg/ha bột vỏ trứng. Kết quả cho thấy, sử dụng vôi hữu cơ từ vỏ trứng đã làm tăng sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh lý của cây đậu xanh giống ĐX14 trồng trong vụ Đông như tăng chiều cao, diện tích lá, chỉ số diệp lục (SPAD), khả năng tích lũy chất khô so với đối chứng không bón hoặc bón vôi CaO.


Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm cho lúa chất lượng cao ở vùng Đồng bằng sông Hồng

Nội dung chính của bài viết trình bày thử nghiệm 6 công thức phân bón trên giống lúa LTh31, được thực hiện tại 4 tỉnh đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH): CT1 được xây dựng trên cơ sở kết quả điều tra sản xuất của nông hộ về lượng phân bón và cách bón. Công thức CT2 - CT6 được tác giả đề xuất dựa trên kết quả phân tích độ phì đất lúa ĐBSH, sử dụng đạm phân giải chậm Agrotein 46A+. Kết quả cho thấy sử dụng phân đạm phân giải chậm Agrotain 46A+ (công thức CT2-CT5) tiết kiệm 25% - 42% lượng đạm so với công thức sử dụng đạm thông thường (CT1).


Nghiên cứu nuôi tảo Spirulina platensis bằng nước thải ao nuôi cá lóc (Channa striata) và ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sự tăng sinh khối

Bài viết trình bày nghiên cứu tận dụng nguồn nước thải ao nuôi cá lóc đã xử lý để nuôi tảo Spirulina platensis. Thí nghiệm gồm có 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Nghiệm thức 1: môi trường nước thải ao nuôi cá lóc có mật độ tảo ban đầu là 1 ˟ 104 tb/mL (10%). Nghiệm thức 2: môi trường nước thải ao nuôi cá lóc có mật độ tảo ban đầu là 1,5 ˟ 104 tb/mL (15%). Nghiệm thức 3: môi trường nước thải ao nuôi cá lóc có mật độ tảo ban đầu là 2 ˟ 104 tb/mL (20%).


Đánh giá hiệu quả của chế phẩm sinh học tổng hợp lên tăng trưởng, khả năng miễn dịch và phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm thẻ chân trắng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm sinh học tổng hợp lên khả năng kích thích tăng trưởng, đáp ứng miễn dịch và phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm thẻ chân trắng với thời gian 30 ngày sử dụng. Cân đo chiều dài và trọng lượng tôm được thu mẫu định kỳ 7 ngày/lần (ngày 0, 7, 14, 21, 28) và các chỉ tiêu miễn dịch được thu vào ngày 0, 15 và 30. Mời các bạn tham khảo!


Ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất trong cơ giới hóa đến sinh trưởng và năng suất của đậu tương trong vụ thu đông tại Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất trong cơ giới hóa đậu tương tới đặc điểm sinh trưởng, sinh lý và năng suất của 2 giống đậu tương ĐT12 và ĐT26. Bốn kỹ thuật làm đất được áp dụng, gồm: (1) phay đất 1 lần, lên luống 1 lần (LĐ1); (2) phay 1 lần, lên luống 2 lần (LĐ2); (3) phay 2 lần, lên luống 1 lần (LĐ3); (4) phay 2 lần, lên luống 2 lần (LĐ4). Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, khả năng tích lũy chất khô, khả năng hình thành nốt sần có sự sai khác giữa các kỹ thuật làm đất.


So sánh một số chỉ tiêu hóa lý và thành phần hóa học trên mẫu hạt tiêu đen từ Phú Quốc và Cùa, Quảng Trị

Mục đích chính của nghiên cứu này là so sánh một số chỉ tiêu hóa lý, thành phần chất béo và tinh dầu của mẫu tiêu đến từ hai vùng Phú Quốc và Cùa, Quảng Trị. Kết quả phân tích cho thấy có sự khác biệt về thành phần hóa lý, chất béo và tinh dầu của mẫu tiêu giữa hai vùng. Trong đó, hàm lượng một số thành phần tinh dầu chính như trans-Caryophyllene của mẫu tiêu Cùa, Quảng Trị (32,85%) có xu hướng cao hơn so với mẫu tiêu Phú Quốc (28,03%). Mời các bạn tham khảo!


Nghiên cứu xử lý phân ruồi lính đen thành phân hữu cơ sinh học và đánh giá tác động của nó đến cải thiện độ pH, độ ẩm đất

Nội dung chính của bài viết trình bày thành phẩm sau khi ủ được đánh giá chất lượng dựa vào Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-189:2019/BNNPTNT về Chất lượng phân bón. Phân ruồi sau xử lý ủ hoai có chất lượng như sau: pH: 7,23; OM: 57,07 (%); Nts: 2,46 (%); axit humic: 3,79 (%); axit fulvic: 3,55 (%); K2Ots: 6,94 (%); P2O5ts: 5,34 (%) và tỉ lệ C/N: 11,74. Về các chỉ tiêu kim loại nặng (Cd, Pb, As và Hg) và vi sinh vật gây hại (Salmonella và E.coli) không phát hiện.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu