Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Nông - Lâm - Ngư (29.116)

Hiệu lực của nấm metarhizium anisoliae trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) và rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal.)

Metarhizium anisopliae là nấm ký sinh trên côn trùng, được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong công tác bảo vệ thực vật ở nhiều nước trên thế giới. M. anisopliae được thu thập ở khu vực thành phố Sơn La, khi thử nghiệm tính độc của loài nấm này đối với một số côn trùng cho thấy độ hữu hiệu của nấm đối với sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus) và sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.).


Đặc điểm hình thái và mức độ gây hại của bọ Vòi voi đục quả xoài Sternochetus frigidus (Fabricius) tại tỉnh Sơn La

Bọ Vòi voi đục quả xoài (MPW) Stenochetus frigidus (Fabr.) là một trong những dịch hại chính gây hại trên cây xoài ở tỉnh Sơn La. Trưởng thành của MPW màu nâu tối, chiều dài cơ thể trung bình là 5,73 ± 0,076 mm, chiều rộng trung bình 3,5 ± 0,06mm; sâu non màu trắng, chiều dài trung bình 10,98 ± 0,16 mm, chiều rộng trung bình 2,95 ± 0,08 mm; nhộng màu trắng bóng, chiều dài trung bình 6,98 ± 0,09 mm, chiều rộng trung bình 3,95 ± 0,08 mm.


Kiến thức bản địa về sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại khu rừng đặc dụng Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Kiến thức bản địa trong khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có vai trò rất quan trọng trong quản lý bền vững nguồn tài nguyên. Kết quả điều tra ban đầu tại cộng đồng người Thái, Khơ Mú cho thấy người dân đã khai thác, sử dụng 70 loài LSNG: 29 loài có công dụng làm thực phẩm chiếm 41,4%, 36 loài có công dụng làm dược liệu chiếm 51,4%, 5 loài cho màu nhuộm chiếm 7,2%.


Đánh giá khả năng chịu hạn ở giai đoạn cây con của một số giống ngô tại Sơn La

Hạn hán là một trong những nguyên nhân gây ra tổn thất trong quá trình sản xuất ngô tại Sơn La nói riêng và Việt Nam nói chung. Nghiên cứu khả năng chịu hạn của các giống ngô lai ở giai đoạn cây con tại phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc năm 2016 cho thấy có sự khác biệt giữa các giống ngô thí nghiệm.


Thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Qua 5 đợt khảo sát thực địa ở xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La từ tháng 10/2013 đến tháng 5/2014, chúng tôi đã thu thập được 75 mẫu vật của 13 loài lưỡng cư thuộc 8 giống, 5 họ, 1 bộ và 30 loài bò sát thuộc 27 giống, 12 họ, 1 bộ. Trong đó có 6 loài bò sát bị đe dọa với 5 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, 5 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 1 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2016).


Ảnh hưởng của biện pháp xử lý cơ chất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất nấm Rơm trồng trên phụ phẩm vỏ cà phê tại Sơn La

Nghiên cứu tiến hành xử lý vỏ quả cà phê bằng nước vôi và bằng nhiệt, đồng thời phối trộn với lõi ngô nghiền và rơm rạ để trồng nấm Rơm tại Sơn La. Kết quả cho thấy phương pháp xử lý vỏ cà phê bằng nhiệt sau đó phối trộn với lõi ngô nghiền theo tỷ lệ 1:1 (công thức X2P3) để làm cơ chất trồng nấm Rơm cho kết quả tốt hơn.


Thực trạng sản xuất và hiệu quả mô hình trồng thử nghiệm một số giống lúa chất lượng cao tại huyện Phù Yên, Sơn La

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng sản xuất lúa gạo đặc sản hàng hóa và xây dựng mô hình trồng thử nghiệm 02 giống lúa chất lượng cao (ĐS1 và LT2) tại huyện Phù Yên. Kết quả khảo sát cho thấy tại huyện Phù Yên chưa có giống lúa bản địa đặc sản, chất lượng cao nào được sản xuất.


Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) giống Dejima tại Tsukuba - Nhật Bản

Thử nghiệm được tiến hành đối với khoai tây giống Dejima tại Tsukuba - Nhật Bản. Trong điều kiện thí nghiệm sau trồng 44 ngày, chiều cao và chỉ số diệp lục của cây khoai tây ở các công thức thí nghiệm không có sự khác nhau (P


Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng đến khả năng hình thành thể quả nấm Cordyceps militaris

Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng đến sự sinh trưởng, phát triển và hình thành thể quả nấm Cordyceps militaris. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở nhiệt độ 25C, độ ẩm không khí 80 - 90%, cường độ ánh sáng 500 - 1000 lx thích hợp cho quá trình hình thành thể quả.


Thực trạng các mô hình trồng cây Maccadamia tại tỉnh Sơn La

Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích trồng cây Macadamia ở huyện Mai Sơn là đơn vị trồng nhiều Macadamia với 51,8 ha, tiếp theo là huyện Thuận Châu với 17 ha, thấp nhất là thành phố 5,92 ha. Cây Macadamia sinh trưởng, phát triển khá ổn định, số lượng cây bị chết hàng năm rất ít, chủ yếu do bị trâu bò phá hoại.


Ứng dụng GIS trong quản lý cây xanh đường phố tại phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La

Nghiên cứu xác định thành phần loài cây xanh trồng trên 8 tuyến đường chính của phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La. Kết quả ghi nhận được 868 cây thuộc 28 loài trong 18 họ thực vật đã được trồng làm cây xanh đường phố.


Hiệu quả của một số biện pháp sinh học trong phòng trừ Bọ hà (Cylas formicarius Fabr.) tại bản Tây Hưng, xã Muổi Nọi, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Khoai lang là cây trồng quan trọng thứ 7 trên thế giới với tổng sản lượng 130 triệu tấn vào năm 2014. Tuy nhiên, khoai lang bị nhiều loài sâu bệnh hại tấn công làm thiệt hại hàng triệu đô la. Bọ hà là đối tượng gây hại quan trọng nhất. Sử dụng bẫy pheromone giới tính và sử dụng chế phẩm sinh học đều cho hiệu quả tốt với tỷ lệ củ do bọ hà gây hại lần lượt là 18% và 12% so với đối chứng là 37%.


Tình hình gây hại của mọt đục quả cà phê (Stephanoderes hampei Ferrari) tại tỉnh Sơn La

Mọt đục quả cà phê Stephanoderes hampei Ferrari là sâu hại chính trên cà phê. Sự gây hại của chúng dẫn đến giảm năng suất và chất lượng cà phê, nhưng chưa có báo cáo chi tiết về tỷ lệ quả bị hại và đặc điểm gây hại của mọt đục quả cà phê tại Sơn La.


Xác định, xếp loại và khảo sát sự biểu hiện của các gen mã hóa dehydrin (DHN) ở cây đậu tương (Glycine max (L.) Merr.) bằng phân tích in silico

Bằng phân tích in silico, chúng tôi đã xác định được 11 gen mã hóa cho các protein Dehydrin (DHN) trong hệ gen của cây đậu tương. Các protein suy diễn của các gen này đều có mang trình tự bảo thủ đặc hiệu cho DHN là phân mảnh K đã được báo cáo ở nhiều loài. Phân tích cây phát sinh chủng loại cho thấy, các DHN của cây đậu tương nằm trên ba nhánh khác nhau, có một số hiện tượng nhân gen xảy ra sau quá trình biệt hóa loài.


Hiện trạng sản xuất và hiệu quả mô hình cấy thẳng hàng đối với lúa Nếp Tan tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Sốp Cộp nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất và hiệu quả mô hình sản xuất lúa Nếp Tan theo phương thức cấy thẳng hàng. Kết quả cho thấy, cơ cấu các giống lúa tại huyện Sốp Cộp chưa đa dạng. Trong vụ Xuân, giống Nếp 87 và Nếp 97 chiếm hơn 95% diện tích. Ở vụ Mùa, ngoài 2 giống trên còn có giống Nếp Tan với diện tích gieo trồng từ 30 - 40% và tập trung tại 3 xã Mường Và, Mường Lạn và Nậm Lạnh. Năng suất lúa Xuân trung bình từ 48 - 55 tạ/ha, năng suất lúa Mùa từ 45 - 48 tạ/ha.


Yếu tố ảnh hưởng đến việc nông dân tham gia mô hình sản xuất và thu mua lúa qua hợp đồng: Trường hợp mô hình của công ty Lộc Trời

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia sản xuất và thu mua lúa qua hợp đồng của nông dân với công ty Lộc Trời. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ 110 hộ nông sản xuất lúa, trong đó 58 hộ có tham gia thực hiện hợp đồng với công ty và 52 hộ sản xuất tự do.


Investigation into antioxidant activity of protein hydrolysate derived from white leg shrimp head (Litopenaeus vannamei)

This study suggests a new way of utilizing the WLSH, antioxidant proteolysate which could be applied as a functional food or natural antioxidant additive replacing synthetic compounds.


Năng lực cạnh tranh các nông sản chủ lực tỉnh Kon Tum

Bài viết tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh của các nông sản chủ lực tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu sử dụng các nhân tố của mô hình kim cương được điều chỉnh bởi OECD, kết hợp với cách đánh giá ma trận hình ảnh cạnh tranh.


Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Trà Vinh

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.


Thiết kế, chế tạo máy trộn sấy trong sản xuất phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh từ phân gia cầm

Thiết kế, chế tạo thành công mẫu máy trộn sấy cỡ nhỏ phục vụ sản xuất phân hữu cơ từ phân gia cầm nhằm giảm thời gian xử lý phân gia cầm, tăng chất lượng phân hữu cơ, giảm chi phí đầu tư và sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường. Kết hợp nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm và sử dụng phần mềm thiết kế đồ họa như SolidWorks, AutoCAD, Inventor để lựa chọn cấu tạo, nguyên lý hoạt động, xác định các thông số kỹ thuật và thử nghiệm đánh giá khả năng làm việc của máy trộn sấy.


Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Bài viết nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Qua nghiên cứu cho thấy trong những năm gần đây hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, kim ngạch xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Bình Dương chiếm 32,7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.


Khảo sát hiệu quả xử lí nước thải sinh hoạt của lục bình và ngổ trầu

Lục bình (Eichornia crassipess) và ngổ trâu (Enydra fluctuans) được nuôi trong môi trường nước thải trong năm tuần để khảo sát khả năng sinh trưởng. Kết quả khảo sát cho thấy, lục bình và rau ngổ trâu đều sinh trưởng tốt trong nước thải sinh hoạt và thời gian phát triển tốt nhất là ở tuần thứ tư.


Một số đặc điểm hình thái và cấu trúc vi thể tuyến muối của giống vịt biển 15 Đại Xuyên

Nghiên cứu này nhằm xác định một số đặc điểm hình thái đại thể và vi thể tuyến muối của vịt biển 15 Đại Xuyên (VB15) và của vịt lai giữa VB15 với vịt trời. Kết quả cho thấy VB15 có đôi tuyến muối hình trăng khuyết nằm trong lõm của xương trán phía bờ trên hố mắt.


Nghiên cứu đặc tính các dòng thải của quá trình sản xuất chitin theo phương pháp truyền thống và phương pháp cải tiến

Nghiên cứu tiến hành so sánh tính chất của các dòng thải sản xuất chitin ở các công nghệ khác nhau theo các thông số pH, COD, TKN, TP, TSS, Ca. Kết quả cho thấy, quá trình hóa học truyền thống không tái sử dụng dòng thu hồi sẽ có mức ô nhiễm thấp. Và các quá trình khác như hóa học hay hóa – sinh cải tiến sẽ tồn tại lượng chất dinh dưỡng lớn và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không tiến hành tận thu nguồn hữu cơ này.


Đánh giá chất lượng nước thải chăn nuôi heo sau biogas tại thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho biết nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi heo sau biogas vượt quá cao so với tiêu chuẩn yêu cầu (QCVN 40:2011/BTNMT). Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ khảo sát trên phạm vi nhỏ (trên 1 hộ chăn nuôi) nên chưa phản ánh tổng quan hiện trạng chất lượng nước thải nên khó có thể đưa ra giải pháp thích hợp để quản lý.


Thiết kế, chế tạo thiết bị thí nghiệm và thực nghiệm cắt băm phụ phẩm cây nông nghiệp

Bài viết trình bày nguyên tắc thiết kế, chế tạo và kết quả thực nghiệm đánh giá thiết bị thí nghiệm cắt băm phụ phẩm cây nông nghiệp nhằm tiết kiệm năng lượng. Thiết bị thí nghiệm chế tạo cho phép dễ dàng điều khiển đồng thời bốn thông số vào và thu thập dữ liệu ba thông số ra cho bài toán nghiên cứu thực nghiệm tối ưu hóa tiết kiệm năng lượng cho quá trình cắt băm phụ phẩm cây nông nghiệp.


Nghiên cứu xử lý bã thải trồng nấm bào ngư làm giá thể trồng rau

Bài viết trình bày việc sử dụng vật liệu chính là bã thải trồng nấm bào ngư phối trộn với phân bò và men vi sinh được ủ sau 45 ngày để tạo giá thể trồng rau. Trong quá trình ủ phân thì tỷ lệ phối trộn được khảo sát để tìm được thông số tối ưu đồng thời theo dõi các chỉ tiêu: Nhiệt độ, độ ẩm, pH, độ sụt lún thể tích, chất hữu cơ và hàm lượng C, N.


Phân lập vi khuẩn Bacillus subtilis từ natto Nhật Bản làm giống sản xuất natto

Bài viết trình bày kết quả phân lập các chủng vi khuẩn Bacillus từ Natto Nhật Bản, kết quả chọn lọc khả năng sinh protease của từng chủng và chọn lọc được hai chủng, đồng thời định danh chúng thuộc loài Bacillus subtilis. Hai chủng B.subtilis N18 và B.subtilis. N441 đã được sử dụng sản xuất Natto, chủng B.subtilis N18 thích hợp để sản xuất chế phẩm enzym giàu Nattokinase còn chủng B.subtilis N441 thích hợp để sản xuất natto.


Một số đặc điểm dịch tễ và triệu chứng lâm sàng của chó, mèo nhiễm sán dây tại Tp. Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

Xét nghiệm 204 mẫu phân chó, mèo nuôi tại 3 phường của thành phố Thái Nguyên thấy chó, mèo nhiễm sán dây với tỷ lệ khá cao: 25,49% ở chó và 9,80% ở mèo, cường độ nhiễm dao động từ 1 - 13 đốt sán/ lần thải phân ở chó và 1 - 2 đốt sán/lần thải phân ở mèo. Tỷ lệ nhiễm sán dây tăng dần theo tuổi chó, mèo.


Phát hiện các loài colletotrichum gây bệnh thán thư ớt bằng phản ứng chuỗi polymerase

Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp. là một trong các bệnh nguy hiểm nhất trên ớt tại Việt Nam và thế giới. Định danh loài Colletotrichum gây bệnh thán thư ớt dựa trên các đặc điểm hình thái thường gây ra sự nhầm lẫn. Mục tiêu của nghiên cứu là thiết kế được các cặp mồi đặc hiệu phục vụ chẩn đoán nhanh, chính xác loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư ớt bằng phản ứng chuỗi polymerase


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Cách gieo trồng dưa lê
  • 11/02/2011
  • 65.548
  • 600

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu