Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ngư nghiệp (6.248)

Kiểm soát ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thủy hải sản ở đầm Cù Mông, tỉnh Phú Yên

Tác giả phân tích hai nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển ở đầm Cù Mông. Thứ nhất, do nguồn thức ăn dư thừa và chất thải từ quá trình bài tiết của thủy hải sản. Thứ hai, do việc xả thải thuốc, hóa chất, bao bì đựng thuốc, hóa chất… Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp để kiểm soát ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thủy sản ở đầm.


Thành phần loài và phân bố cỏ biển đầm Thuỷ Triều, Khánh Hòa

Kết quả khảo sát cỏ biển ở đầm Thuỷ Triều tại 9 trạm đã xác định được 6 loài cỏ biển, thuộc hai họ Hydrocharitaceae và Cymodoceaceae. Các loài Halodule uninervis, Halophila ovalis, và Enhalus acoroides là các loài chiếm ưu thế. Đầm Thuỷ Triều có mức độ đa dạng loài trung bình so với đầm Nha Phu và vịnh Cam Ranh.


Xác định tính kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Streotococcus spp. gây bệnh trên cá rô phi và cá rô đầu vuông nuôi tại một số tỉnh phía Bắc

Bài viết tiến hành nghiên cứu các chủng vi khuẩn Streptococcus spp. phân lập được từ cá rô phi và cá rô đầu vuông bị bệnh thu tại tỉnh Phú Thọ và Hải Dương đã được lựa chọn để xác định tính kháng thuốc kháng sinh đối với 12 loại kháng sinh bằng phương pháp kháng sinh đồ khuếch tán trên đĩa thạch.


Bệnh vi khuẩn mới nổi nguy hiểm ở cá hồi vân và nghiên cứu ứng dụng liệu pháp thực khuẩn thể trong phòng trị bệnh

Bài viết tiến hành để phân lập và xác định tác nhân gây bệnh, tìm kiếm và thử nghiệm liệu pháp thực khuẩn thể để thay thế kháng sinh trong phòng trị bệnh cho cá hồi vân (rainbow trout). 36 chủng vi khuẩn đã được phân lập từ cá hồi vân bị bệnh trên cơ sở chẩn đoán khẳng định bằng phản ứng sinh hóa, 16S rRNA và PCR.


Multi-correlation between nematode communities and environmental variables in mangrove-shrimp ponds, Ca Mau province, southern Vietnam

This research aims to explain the differences between single- and multi-correlation for evaluation of the effects of environmental factors on nematodes as well as aquatic organisms.


Hiện trạng và vai trò của chứng nhận VietGAP trong nuôi tôm: Nghiên cứu trường hợp nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2019 thông qua phỏng vấn 105 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh theo chứng nhận VietGAP tại tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiện trạng và hiệu quả thực hành chứng nhận trong quản lí dịch bệnh và chất lượng tôm nuôi.


Ảnh hưởng của mật độ và độ mặn lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis) giai đoạn 20 đến 50 ngày tuổi

Bài viết đánh giá ảnh hưởng của mật độ và độ mặn khác nhau lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá sặc rằn để làm cơ sở xây dựng quy trình hướng đối tượng này, đồng thời góp phần ổn định nuôi cá nước ngọt trong tình hình xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long


Tài liệu tham khảo học phần: Mô phôi động vật thuỷ sản (Dùng cho sinh viên chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản)

Tài liệu tham khảo học phần: Mô phôi động vật thuỷ sản (Dùng cho sinh viên chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản) giới thiệu đến người học một số sách, giáo trình cần thiết để tham khảo và sử dụng để học môn Mô phôi động vật thuỷ sản. Mời các bạn cùng tham khảo.


Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình nuôi trồng thủy sản ven biển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

Sử dụng các phương pháp kinh tế lượng, bài viết lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình nuôi trồng thủy sản vùng ven biển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, kinh tế hộ nuôi trồng thủy sản ven biển huyện Thăng Bình có tính thuần ngư cao và chịu ảnh hưởng ý nghĩa bởi các nhân tố gắn với hoạt động ngư nghiệp như trình độ máy móc, trình độ kỹ thuật sản xuất, lòng yêu nghề, chất lượng giống nuôi, chất lượng nguồn nước nuôi, số lượng máy sục khí và cơ sở hạ tầng.


Dự báo tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với hoạt động thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Bài viết đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, biểu hiện của biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long; những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Từ đó đưa ra những dự báo cho thời gian tới, mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu.


Thành phần loài và các loại nghề khai thác cá ở đầm Đông Hồ, Hà Tiên tỉnh Kiên Giang

Bài báo là nghiên cứu đầu tiên về cá ở đầm Đông Hồ (Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang) với mục đích cung cấp các dữ liệu khoa học về thành phần loài và các loại nghề khai thác cá trong đầm làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển thủy sản bền vững kết hợp với bảo vệ môi trường và du lịch sinh thái cho khu vực đầy tiềm năng này.


Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 2/2020

Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản: Số 2/2020 thông tin đến quý độc giả các bài viết ảnh hưởng của nồng độ enzyme và thời gian đến quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri); giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh ở cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) thu tại Phú Yên; kết quả nghiên cứu xây dựng giải pháp chuyển đổi nghề lưới kéo của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ sang nghề nuôi biển; nghiên cứu thực trạng nghề lưới kéo hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh...


Một vài khía cạnh quản lý môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

Dựa theo nguyên tắc phát triển bền vững, nuôi trồng thủy sản phải là hoạt động có kế hoạch được thực hiện theo phương thức có trách nhiệm để giảm thiểu các tác động môi trường. Liên quan đến môi trường tự nhiên, một trong những thách thức của việc phát triển nuôi trồng thủy sản là duy trì chất lượng môi trường. Điều đó có nghĩa việc phát triển nuôi trồng thủy sản nên được tiếp cận dựa trên quan điểm sinh thái. Bài viết này đề cập một số khía cạnh quản lý môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản bao gồm chất thải từ nuôi trồng thủy sản, các chỉ thị chất lượng nước và những công cụ quản lý hành chính.


Effects of stocking density on growth and survival of tilapia cultured in biofloc technology system in brackish water

This study examined the effect of stocking density on growth and survival of tilapia cultured in biofloc technology system. Three different stocking densities cultured in biofloc technology were 6 fish/m3 , 8 fish/m3 and 10 fish/m3 for 86 days in triplicate for each treatment. The stocking density of the control lot was 3 fish/m3 cultured without biofloc technology. Initial stocking weight ranged from 2–3 g/fish. The water quality parameters were monitored and regulated in the suitable ranges for biofloc technology and for the growth and development of tilapia


Ảnh hưởng của nồng độ enzyme và thời gian đến quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri)

Bài báo này công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ enzyme đến quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri) bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ enzyme và thời gian thủy phân có ảnh hưởng mạnh đến hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin sulphate và NNH3 tạo thành trong dịch thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase-papain thích hợp cho quá trình thủy phân sụn cá mập là 0,3%. Sau 10h thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain với nồng độ enzyme 0,3%, nhiệt độ thủy phân 50ºC, thủy phân ở pH tự nhiên (6,8), khối lượng mẫu 2kg và tỷ lệ nước bổ sung 2 lít, dịch thủy phân có hàm lượng protein hòa tan, peptid, Naa, chondroitin sulphate và NNH3 cao gấp 7,06 lần, 3,68 lần, 9,01 lần, 83,42 lần và 1,27 lần so với ban đầu.


Nghiên cứu đặc điểm sinh học tinh sào cá khế vằn (Gnathanodon speciosus)

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về sinh học sinh sản cá khế vằn (Gnathanodon speciosus). Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm tinh sào cá khế vằn đực. Đàn cá thí nghiệm có khối lượng và chiều dài lần lượt là 400-800 g và 30-44 cm. Đàn cá được nuôi trong lồng trên biển và cho ăn hàng ngày bằng cá tạp với khẩu phần 3-5% khối lượng thân. Cá đực được thu mẫu ngẫu nhiên để thu thập tinh sào. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số thành thục (GSI) trung bình của cá khế vằn đực tăng cao từ tháng 6 và đạt giá trị cao nhất vào tháng 9 (3,3% ± 0,6%). Tỷ lệ thành thục sinh dục ở cá đực đạt tỷ lệ cao giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 9. Đây là loài cá đẻ nhiều lần trong năm. Trong tinh sào thành thục có nhiều tinh bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Thành phần sinh hóa của tinh sào thay đổi theo giai đoạn phát triển. Hàm lượng protein và lipid ở giai đoạn thành thục cao hơn so với giai đoạn chưa thành thục.


Giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh ở cá diếc (Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)) thu tại Phú Yên

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số loài giáp xác, sán dây và giun tròn ký sinh trên các mẫu cá diếc (Carassius auratus auratus thu tại Phú Yên). Tổng cộng 201 mẫu cá, bao gồm 64 mẫu thu từ Đầm Bàu Súng (huyện Tuy An), 55 mẫu thu từ Sông Kỳ Lộ (huyện Tuy An) và 82 mẫu thu từ các ao cá nước ngọt (huyện Đông Hòa) đã được thu thập để nghiên cứu.


Ảnh hưởng của nước thải từ ương tôm giống tới tỷ lệ sống, sinh trưởng và sinh sản của Artemia

Nghiên cứu được tiến hành gồm 4 nghiệm thức tương ứng với 4 tỷ lệ nước thải khác nhau từ sản xuất tôm giống: 100% nước thải; 25% nước thải và 75% nước sạch; 50% nước thải và 50% nước sạch; 100% nước sạch. Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của lượng nước thải sử dụng đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh sản của Artemia. Từ đó, đánh giá khả năng nuôi sinh khối Artemia bằng nguồn nước thải từ sản xuất tôm giống.


Ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến cá bè đưng (G. speciosus Forsskål, 1775) ở giai đoạn đầu nuôi thương phẩm

Bài báo trình bày kết quả thí nghiệm nuôi thương phẩm cá bè đưng trong lồng bằng thức ăn công nghiệp với các nghiệm thức cho ăn hai lần, ba lần và bốn lần/ngày. Kết quả cho thấy, sau một tháng nuôi, chiều dài cá khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa ba nghiệm thức (P ≥ 0,05), nhưng khối lượng cá có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa cho ăn hai lần và bốn lần/ngày (P


Crablet nursery of mud crab (Scylla paramamosain) with different feed types and stocking densities

This study aims to determine the appropriate feed type and stocking density to improve the survival rate and growth performance of mud crab crablet during the nursery stage. The study consisted of 2 experiments as follows: (1) Rearing crablets with different feed types (including commercial feed, artemia biomass and acetes biomass) and (2) rearing crablets at different stocking densities (including 100; 200; 300 and 400 inds/m2 ). All treatments were randomly set up in triplicate. The initial sizes of crablet were 3.24 ± 0.54 mm in length, 4.54 ± 0.79 mm in width and 0.018 ± 0.004 g in weight. The result showed that using acetes biomass gave the best results compared to other treatments. The survival rate was 58.8% and biomass was 118 inds/m2 . The second experiment showed that rearing crablets at 100 inds/m2 reached the highest survival rate (90.7%) and biomass (91 inds/m2 ).


Thành phần hóa học cơ bản và một số tính chất vật lý của cá ngừ đại dương đánh bắt tại Việt Nam

Nghiên cứu này xác định thành phần hoá học cơ bản và các thông số vật lý của cá ngừ đại dương đánh bắt tại Việt Nam nhằm phụ vụ cho quá trình nghiên cứu làm lạnh và bảo quản tiếp theo. Nghiên cứu được thực hiện trên cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to kích cỡ 20 kg up và 40 kg up. Kết quả cho thấy thịt cá ngừ chiếm phần lớn (gần 70%), nội tạng chiếm trên 10%, còn lại là các phần khác (đầu, vây, xương, da). Hàm lượng ẩm trung bình 74 - 81%, protein dao động từ 20 - 22%, lipid khoảng 3%, glucid tương đối thấp trong khoảng từ 0,1-0,2%, tro 0,87- 0,92%. Khối lượng riêng của cá ngừ đại dương ướp lạnh ở 0 - 4o C là 1.006 - 1.108 (kg/m3 ). Điểm băng từ -1,85 đến -2,00o C; nhiệt dung riêng 0,8140 - 0,835 (kcal/kgo C) (trên điểm băng) và 0,454 - 0,459 (kcal/kgo C) (dưới điểm băng); nhiệt hàm 20,356 - 20,869 (kcal/kg) để giảm nhiệt độ thịt cá từ 25o C đến 0o C và 21,914 - 22,466 (kcal/kg) để giảm nhiệt độ thịt cá từ 25o C đến điểm băng.


Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển nuôi tôm trên cát ở tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có lợi thế và tiềm năng lớn trong phát triển nghề nuôi tôm trên cát, với diện tích đất cát có thể đưa vào phát triển nuôi tôm thâm canh từ nay đến 2030 là 1.244 ha. Hơn nữa, nguồn nước cấp lấy vào nuôi tôm không phụ thuộc vào chế độ thủy triều mà có thể lấy trực tiếp từ biển, đồng thời nước biển có độ trong và sạch. Với những lợi thế có được thì mô hình nuôi tôm trên cát đã thành công và phù hợp tại địa phương, sản lượng đạt từ 7-20 tấn/ha. Mô hình nuôi tôm trên cát bắt đầu từ 2005 và đến 2018 diện tích nuôi đạt 38,4-50% so với kế hoạch tổng thể quy hoạch giai đoạn 2015-2020.


Kết quả nghiên cứu xây dựng giải pháp chuyển đổi nghề lưới kéo của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ sang nghề nuôi biển

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp từ các chủ tàu lưới kéo và chủ hộ nuôi biển; đánh giá các chỉ số kinh tế như vốn đầu tư, chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận... của nghề nuôi biển so với và nghề lưới kéo hoạt động tại vùng biển ven bờ huyện Vân Đồn giai đoạn 2014 ÷ 2016; triển khai mô hình thử nghiệm chuyển đổi 01 chủ tàu lưới kéo ven bờ sang nuôi cá lồng bè tại xã Thắng Lợi huyện Vân Đồn năm 2017 cho thấy: Nuôi cá lồng bè có mức đầu tư bằng 1,63 lần nhưng lợi nhuận bằng 4,69 lần so với nghề lưới kéo; lợi nhuận trên vốn đầu tư của nuôi cá lồng bè bằng 2,88 lần và tiền công của người lao động trong 1 giờ làm việc của nuôi cá lồng bè bằng 1,83 lần so với nghề lưới kéo.


Nghiên cứu khả năng xử lý phosphate của vi khuẩn Bacillus subtilus phân lập từ nguồn nước thải chế biến thủy sản

Với mục đích đánh giá khả năng xử lý phosphate của vi khuẩn Bacillus subtilus phân lập từ nước thải chế biến thủy sản nhiễm mặn, 5 chủng Bacillus subtilus phân lập từ nước thải chế biến thủy sản được chọn lọc để tiến hành thí nghiệm nhằm xác định mật độ vi sinh vật; khoảng nồng độ phosphate phù hợp; hiệu quả xử lý phosphate so sánh với các chế phẩm trên thị trường trong điều kiện hiếu khí.


Fish inventory and fishing practices in Candaba swamp, Philippines: Their implication to fishermen’s income

This study generally aimed to make an inventory of fishes in Candaba Swamp and documented the fishing practices of the local fishermen as they are related to their income. The study documented 14 different species of fishes, each representing 14 families in the Barangays of San Agustin and Dukma Paralaya.


Đánh giá hiệu quả khai thác thủy sản xa bờ ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

Bài viết sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả ngành khai thác thủy sản ở Phan Thiết, Bình Thuận trên cả 3 phương diện kinh tế, môi trường và xã hội.


Hiệu quả của mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn và tài nguyên thiên nhiên cho vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long

Dưới tác động của BĐKH xói lở bờ biển và suy thoái rừng ngập mặn đã gây nên thiệt hại rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo chức năng phòng hộ, phòng chống sạt lở, xói mòn đất, xói mòn bờ biển, bảo vệ đê biển, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ cuộc sống và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển. Quản lý và sử dụng rừng ngập mặn bền vững được xem là một trong nhiều giải pháp có tính bền vững. Bài báo này phân tích hiệu quả mô hình đồng quản lý rừng và tài nguyên thiên nhiên ở ấp Âu Thọ B, tỉnh Sóc Trăng. Kết quả đánh giá cho thấy mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn bảo vệ và sử dụng bền vững vùng đất ngập nước ven biển đã cải thiện sinh kế vì lợi ích của dân cư gắn với bảo vệ khôi phục hiệu quả rừng ngập mặn.


Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết Anadara granosa (Linner, 1759) từ ấu trùng trôi nổi đến sò giống cấp 2 trong ao đất

Nghiên cứu được thực hiện làm 2 giai đoạn, từ giai đoạn trôi nổi đến sò giống cấp 1 và từ sò giống cấp 1 đến sò giống cấp 2, mỗi giai đoạn đều ương 3 đợt. Kết quả ương giai đoạn 1 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các đợt ương về tỷ lệ sống (từ 21,8-24%). Chiều dài trung bình của sò đạt giá trị từ 1070 - 1130 μm/ cá thể. Ở giai đoạn ương giống cấp 2, tốc độ tăng trưởng tương đối không có sự khác biệt giữa 3 đợt ương. Tỷ lệ sống của 3 đợt ương lần lượt là 30%; 19,4% và 15,8%.


Tần số xuất hiện Vibrio cholerae trên tôm và nhuyễn thể, xác định Serogroup O1, O139 và Biotype của V. cholerae bằng kỹ thuật Multiplex-PCR

Nghiên cứu được thực hiện trên 240 mẫu tôm và nhuyễn thể thu thập ở Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh. Mẫu được tăng sinh bằng hai dung dịch muối pepton kiềm không bổ sung và bổ sung polymycin B 50 UI và 3 % NaCl. DNA ly trích trực tiếp từ dung dịch tăng sinh được kiểm tra bằng 3 phản ứng m–PCR để xác định (i) loài V. cholerae (mPCR1); (ii) serogroup O1, O139 (m-PCR2) và (iii) biotype (m-PCR3). Bên cạnh đó, các gốc vi khuẩn cũng định danh bằng phương pháp sinh hóa và xác định lại bằng các phản ứng m-PCR.


Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá nước ngọt

Để hỗ trợ cho bà con nông dân và những cán bộ khuyến ngư cấp cơ sở. Trung tâm nghiên cứu xuất bản sách và tạp chí phối hợp với Nhà xuất bản lao động xã hội cho xuất bản tài liệu “Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá nước ngọt”. Tài liệu này được biên soạn nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản của đời sống của một số loài cá và những kiến thức ban đầu về canh tác nuôi trồng thủy sản.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu