Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ngư nghiệp (6.056)

Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ trên cá có vảy nuôi thịt ở thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên bảy loài cá có vảy nuôi thịt trong ao đất ở Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện vào mùa mưa năm 2017 và mùa khô năm 2018. Tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá trong mùa mưa cao hơn mùa khô có ý nghĩa thống kê (P


Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của các loài cá ở sông Tiền, đoạn qua tỉnh Tiền Giang

Kết quả thu được ở sông Tiền, đoạn qua tỉnh Tiền Giang gồm 101 loài cá, xếp trong 70 giống, 38 họ, 16 bộ, 2 lớp; có 4 loài cá được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); có 97 loài được sử dụng làm thực phẩm, 24 loài có tiềm năng làm cá cảnh, 32 loài có thể sử dụng trong nuôi thương phẩm; 62,57% tổng số loài cá ở đây có độ thường gặp ít, rất ít và không gặp; chỉ có trên 37,42% số loài có độ thường gặp rất nhiều và nhiều; có 45 loài cá chiếm 44,55% phân bố ở môi trường nước ngọt và 71 loài cá chiếm 70,29% phân bố ở môi trường nước lợ.


Ảnh hưởng của ion đồng (Cu2+) lên hình thái và nhịp tim của ấu trùng cá ngựa vằn – Danio rerio Hamilton, 1822 giai đoạn 1-6 ngày tuổi

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác động của ion đồng (Cu2+) ở các nồng độ 0µg/L; 500 µg/L; 1000 µg/L; 2000 µg/L lên quá trình phát triển tim cá Ngựa vằn (Danio rerio Hamilton, 1822) giai đoạn ấu trùng sau nở từ 1-6 ngày tuổi.


Khu hệ động vật phù du ở hồ Tuyền Lâm, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Kết quả nghiên cứu khu hệ động vật phù du tại 7 điểm thu mẫu ở hồ Tuyền Lâm trong năm 2017 đã ghi nhận được tổng số 33 loài thuộc 3 ngành, 5 lớp, 7 bộ, 21 họ, 26 giống và 3 dạng ấu trùng con non. Trong đó, đợt tháng 5/2017 có 19 loài và 3 dạng ấu trùng con non, đợt tháng 10/2017 có 29 loài và 1 dạng ấu trùng con non loài. Nhóm Rotifera luôn chiếm ưu thế về thành phần loài ghi nhận được.


Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ương giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) trong hệ thống có và không có biofloc

Nghiên cứu nhằm tìm ra độ mặn thích hợp cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của ương giống tôm càng xanh trong hệ thống có và không có biofloc. Nghiên cứu có 6 nghiệm thức với các độ mặn 0‰, 5‰, 10‰ trong hệ thống có và không có biofloc, bể ương tôm có thể tích 500 lít, tôm giống có khối lượng 0,006 g/con, mật độ bố trí 1.000 con/m3 , sử dụng bột gạo để tạo biofloc với tỉ lệ C/N = 15.


Ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục của cá heo (Botia modesta Bleeker, 1865)

Thí nghiệm nuôi vỗ thành thục cá heo được thực hiện với 4 nghiệm thức (NT) thức ăn NT1: tép trấu; NT2: cá tạp biển, NT3: 50% cá tạp biển + 50% thức ăn công nghiệp 40% đạm và NT4 là thức ăn công nghiệp 40% đạm. Sau 4 tháng nuôi vỗ kết quả đạt được như sau: Nhiệt độ, pH và ôxy trong ao nuôi vỗ luôn nằm trong khoảng thích hợp để cá thành thục sinh dục.


Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá đỏ mang (Systomus rubripinnis)

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá đỏ mang (Systomus rubripinnis) được thực hiện tại tỉnh An Giang và thành phố Cần Thơ từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Độ béo Fulton biến động trong khoảng 2,99 - 3,49%; độ béo Clark ở khoảng 2,49 - 3,05%. Cả hai độ béo cùng tăng lên và đạt giá trị cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất ở tháng 9. Nhân tố điều kiện (CF) của cá dao động từ 0,05 - 0,46; cao nhất vào tháng 8 (0,46) và thấp nhất vào tháng 10 (0,05).


Ảnh hưởng của tỉ lệ cho ăn khác nhau đến chất lượng nước và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm sú (Penaeus monodon) nuôi kết hợp với rong nho (Caulerpa lentillifera)

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra tỉ lệ cho ăn tối ưu trong nuôi kết hợp tôm sú (Penaeus monodon) với rong nho (Caulerpa lentillifera) gồm 4 nghiệm thức, 3 lần lặp lại. Nghiệm thức đối chứng, tôm nuôi đơn và được cho ăn thức ăn thương mại thỏa mãn, ba nghiệm thức nuôi kết hợp tôm-rong nho được cho ăn với các tỉ lệ khác nhau: 75%, 50% và 25% lượng thức ăn đối chứng.


Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá sặc bướm (Trichogaster trichopterus) ở tỉnh Cà Mau

Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá sặc bướm (Trichogaster trichopterus) ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau từ tháng 12/2015 đến 11/2016 cho thấy: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá có dạng phương trình hồi qui: W = 0,0091L2,3318 với R2 = 0,9634.


Phương pháp thu phân và khả năng tiêu hóa của cá lóc (Channa striata) với nguồn nguyên liệu protein khác nhau

Nghiên cứu nhằm xác định thời điểm thu phân sau khi cho cá ăn và phương pháp thu phân thích hợp áp dụng cho nghiên cứu độ tiêu hóa ở cá lóc (Channa striata).


Hiện trạng kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi lươn đồng (Monopterus albus) thương phẩm

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khía cạnh kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi lươn đồng (Monopterus albus) thương phẩm tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ từ tháng 8 - 11/2016. Tổng số 60 hộ nuôi lươn được khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn.


Nghiên cứu xác định nhu cầu protein của cá heo giống

Nghiên cứu nhằm xác định nhu cầu protein trong thức ăn của cá heo ở giai đoạn cá giống. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức có mức protein là: 25%, 30%, 35%, 40%, 45%, 50% và 55% với cùng mức năng lượng (4 Kcal/g) và chất béo (6%), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.


Khảo sát tình hình tiêu dùng thực phẩm thủy sản của phụ nữ và trẻ em ở tỉnh An Giang

Khảo sát nhằm đánh giá lượng thực phẩm và năng lượng cung cấp trong 24 giờ đối với phụ nữ, trẻ em và phân tích vai trò của thực phẩm thủy sản đối với tiêu dùng hàng ngày. Điều tra được thực hiện từ tháng 01 - 11/2017 tại tỉnh An Giang thông qua phỏng vấn 300 phụ nữ và 300 trẻ em căn cứ theo mùa nắng (MN) và mùa mưa (MM).


Ảnh hưởng vitamin C lên tăng trưởng và một số chỉ tiêu miễn dịch của cá lóc nuôi thương phẩm trong vèo

Nghiên cứu nhằm xác định phương pháp bổ sung tối ưu và hàm lượng vitamin C thích hợp vào thức ăn giúp kích thích tăng trưởng và sức khỏe cá lóc (Channa striata) nuôi thương phẩm.


Nghiên cứu quá trình sấy tôm bằng phương pháp sấy chân không vi sóng

Nghiên cứu phương pháp chân không - vi sóng để sấy tôm với mức năng lượng vi sóng 300 ÷ 500 W, áp suất chân không 60 ÷ 120 mbar được chia làm 11 thí nghiệm. Dữ liệu được phân tích từ những giây đầu tiên của quá trình sấy để xác định được giá trị khuếch tán, đường cong động học quá trình sấy và đánh giá chất lượng thành phẩm. Mô hình toán học được sử dụng trong nghiên cứu là mô hình Lewis.


An toàn và hiệu lực của vacxin Han-Streptila trên cá rô phi nuôi thương phẩm

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá an toàn và hiệu lực của vacxin Han-Streptila trên cá rô phi nuôi thương phẩm bằng phương pháp tiêm tại Hậu Giang, Tiền Giang và Đồng Tháp và phương pháp cho ăn tại An Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp. Mỗi khu vực được thực hiện trên 03 lô thí nghiệm gồm một lô đối chứng, lô miễn dịch và lô an toàn.


Hiện trạng nhiễm sán lá song chủ (Metacercariae) trên cá tra giống và cá tra nuôi thương phẩm tại tỉnh Tiền Giang, Việt Nam

Nhằm xác định tình trạng nhiễm sán lá song chủ (metacercariae) trên cá tra giống và cá tra nuôi thịt tại tỉnh Tiền Giang, nghiên cứu này đã thu và phân tích mẫu cá vào mùa mưa và khô (4/2017-4/2018), với tổng số cá thu là 272 cá tra thịt (48 ao) và 3.320 cá tra giống (64 ao). Phân tích mẫu cá bằng phương pháp tiêu cơ và định dạng sán bằng hình thái học.


Thiết kế và chế tạo mô hình tự động điều khiển một số thông số môi trường cho ao nuôi tôm quy mô phòng thí nghiệm

Nghiên cứu đã ứng dụng bộ vi điều khiển Arduino UNO R3 trong việc xây dựng mô hình giám sát và điều khiển chất lượng môi trường nước và không khí cho ao nuôi tôm nhằm hạn chế tác động của sự thay đổi môi trường đến năng suất và chất lượng của tôm. Mô hình được thiết kế để giám sát, điều khiển một số thông số chính của môi trường như nhiệt độ nước, nhiệt độ không khí và độ pH trong ao nuôi.


Ảnh hưởng của thời gian bảo quản nguyên liệu đến chất lượng của chitosan từ vỏ tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)

Ảnh hưởng của thời gian bảo quản nguyên liệu đến chất lượng của chitosan từ vỏ tôm thẻ chân trắng đã được nghiên cứu. Chất lượng của chitosan được chiết rút từ nguyên liệu vỏ tôm thẻ chân trắng được đánh giá bởi độ deacetyl hóa, độ nhớt, hiệu suất thu hồi và ẩm độ.


Khảo sát hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong một số loài cá ở đầm Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích sắc ký khí ghép khối phổ để khảo sát hàm lượng dư lượng HCBVTV nhóm clo hữu cơ trong các loài cá bống xệ (Parapocryptes serperaster), cá ong căng (Terapon jarbua), cá hanh (Moolgarda pedaraki) và cá đối (Acanthopagrus berda) ở đầm Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.


Xác định các bệnh ký sinh trùng trên cá Lóc (Ophiocephalus sp) nuôi tại Quảng Xương - Thanh Hóa

Mẫu cá lóc đƣợc thu định kỳ hàng tháng sau đó mang về phòng thí nghiệm để cố định, làm tiêu bản, phân loại và xác định tỉ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ký sinh trùng trên cá. Kết quả đã định loại đƣợc 4 loài Trichodina domergueii, Vorticella similes, Philometra sp và Argulus chinensis.


Khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm - thực trạng và giải pháp cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản Thanh Hóa

Trong bài viết này, trên cơ sở tổng kết các quan điểm và kinh nghiệm triển khai truy xuất nguồn gốc sản phẩm tại các quốc gia phát triển trên thế giới kết hợp với thực trạng khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản đang được áp dụng tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Thanh Hóa, tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện yêu cầu quan trọng này.


Xây dựng mối liên kết theo chuỗi giá trị để phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

Liên kết theo chuỗi giá trị mang lại nhiều lợi ích cho người nuôi trồng thủy sản như giảm được chi phí sản xuất, tăng lợi ích, có được đơn hàng lớn, ký hợp đồng đầu vào và ra cho cho ngành nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa hiện nay hiện trạng liên kết này còn lỏng lẻo, rời rạc, và chưa phát triển, phát triển liên kết chuỗi còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy cần tăng cường xây dựng mối liên kết theo chuỗi để phát triển nuôi trồng thủy sản một cách bền vững.


Thực trạng và một số giải pháp cải thiện công tác quản lý trang trại nuôi ngao tại tỉnh Thái Bình

Bài viết này dựa trên dữ liệu thu thập từ phiếu điều tra và ghi chép tại 80 trang trại nuôi ngao tại tỉnh Thái Bình trong năm 2014 để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý trang trại cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trang trại nuôi ngao. Kết quả chỉ ra rằng công tác quản lý vật tư, cải tạo đầm và quản lý thu hoạch khá tốt


Nghiên cứu tính tổn thương sinh kế của ngư dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu - trường hợp nghiên cứu tại xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu này sử dụng chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) như một phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế tương đối của ngư dân đối với tác động của biến đổi khí hậu. Chỉ số này gồm có bảy thành phần chính bao gồm: Đặc điểm kinh tế xã hội, chiến lược sinh kế của hộ dân, mạng lưới xã hội, y tế, thực phẩm, nguồn nước và biến đổi khí hậu. Mỗi thành phần được tạo thành từ các thành tố nhỏ (tiểu thành tố).


Investigation into antioxidant activity of protein hydrolysate derived from white leg shrimp head (Litopenaeus vannamei)

This study suggests a new way of utilizing the WLSH, antioxidant proteolysate which could be applied as a functional food or natural antioxidant additive replacing synthetic compounds.


Nghiên cứu đặc tính các dòng thải của quá trình sản xuất chitin theo phương pháp truyền thống và phương pháp cải tiến

Nghiên cứu tiến hành so sánh tính chất của các dòng thải sản xuất chitin ở các công nghệ khác nhau theo các thông số pH, COD, TKN, TP, TSS, Ca. Kết quả cho thấy, quá trình hóa học truyền thống không tái sử dụng dòng thu hồi sẽ có mức ô nhiễm thấp. Và các quá trình khác như hóa học hay hóa – sinh cải tiến sẽ tồn tại lượng chất dinh dưỡng lớn và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không tiến hành tận thu nguồn hữu cơ này.


Hiện trạng nguồn lợi cá và động vật thân mềm ở hồ Tây - Hà Nội

Bài viết trình bày việc đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản hồ Tây, để có các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản phù hợp với thực tế. Bằng phương pháp phân loại chung theo tiêu chuẩn của thế giới và trong nước cũng như đánh giá trữ lượng theo Gulland (1969), kết quả ghi nhận sự suy giảm nghiêm trọng về thành phần loài cá và động vật thân mềm, hiện thu được 21 loài cá và 3 loài động vật thân mềm.


Khảo sát hiện trạng vùng nuôi và chất lượng nguồn nước nuôi cá tra tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm khảo sát hiện trạng vùng nuôi cá tra công nghiệp và đánh giá chất lượng nguồn nước sử dụng cho các ao nuôi cá tra trên địa bàn huyện Thanh Bình - tỉnh Đồng Tháp.


Hành vi giảm thiểu và phân tán rủi ro của người nông dân nuôi tôm vùng đồng bằng sông Cửu Long

Qua nghiên cứu quá trình sản xuất của nông dân nuôi tôm, bài viết cho là do môi trường sản xuất có nhiều bất ổn nên trong hoạt động kinh tế của mình, nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã luôn thể hiện tư duy phân tán và giảm thiểu rủi ro như một đáp ứng “duy lý” với môi trường sản xuất.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu