Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Lâm nghiệp (2.052)

Ứng dụng GIS trong quản lý cây xanh đường phố tại phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La

Nghiên cứu xác định thành phần loài cây xanh trồng trên 8 tuyến đường chính của phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La. Kết quả ghi nhận được 868 cây thuộc 28 loài trong 18 họ thực vật đã được trồng làm cây xanh đường phố.


Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Trà Vinh

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.


Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Bài viết nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Qua nghiên cứu cho thấy trong những năm gần đây hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, kim ngạch xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Bình Dương chiếm 32,7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.


Giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong việc bảo vệ vùng ven biển Việt Nam

Bài viết làm rõ vai trò, chức năng và giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn để người dân ven biển Việt Nam cần nâng cao ý thức bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn và khai thác bền vững lợi ích từ hệ sinh thái rừng ngập mặn.


Tri thức địa phương của người Cơ Tu trong khai thác và sử dụng thực vật rừng

Cư trú chủ yếu ở khu vực miền núi, kinh tế còn nhiều khó khăn, người Cơ Tu phải dựa vào rừng để đảm bảo cuộc sống của mình. Đến nay kinh tế “tước đoạt” vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của tộc người Cơ Tu. Rừng mang đến cho người dân nhiều nguồn lợi đáng kể. Trong đó, sự phong phú của thực vật rừng đã đáp ứng nhiều mặt trong đời sống vật chất của người dân.


Nghiên cứu và đề xuất mô hình doanh nghiệp thương mại trong chuỗi cung ứng cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Để giải quyết những vấn đề bất cập trong chuỗi cung ứng cây giống lâm nghiệp, cần có một Doanh nghiệp Thương mại (DN TM) quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng nhằm mang lại lợi ích cho các thành viên trong chuỗi. Đề tài này mong muốn tạo sự chủ động trong sản xuất cũng như tiêu thụ góp phần nâng cao đời sống xã hội cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.


Chuỗi cung ứng xanh thủy sản Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nội dung bài viết trình bày để giải quyết vấn đề này các doanh nghiệp cần nhìn nhận đúng đắn và nghiêm túc về chuỗi cung ứng, đặc biệt là chuỗi cung ứng xanh. Theo đó, cần có các biện pháp giảm tác động xấu đến môi trường trong các hoạt động của chuỗi cung ứng bao gồm: Hoạch định, tìm nguồn cung ứng, sản xuất, phân phối và trả lại. Bài báo sẽ đưa ra mô hình chuỗi cung ứng xanh, thực trạng xanh hóa chuỗi cung ứng xanh thủy sản Việt Nam và những giải pháp để làm xanh hóa chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam hủy sản Việt Nam.


Hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK tổng số trong lá và trong đất gieo ươm và trồng rừng cây sồi phảng (lithocarpus fissus (Champ.ex benth) A.camus) ở các tuổi khác nhau

Nghiên cứu được tiến hành nhằm chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng làm căn cứ cho việc bón phân và các biện pháp tác động để nâng cao khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây, bài báo này đã nghiên cứu hàm lượng NPK tổng số trong lá cây và trong đất Sồi phảng ở vườn ươm và sau khi trồng 1, 3, 5 và 10 tuổi.


Mối quan hệ của xoan nhừ (Choerospondias axillaris) với các loài trong rừng tự nhiên ở 2 tỉnh Sơn La và Lào Cai

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa xoan nhừ với các loài cây trong rừng tự nhiên đã sử dụng phương pháp điều tra ô 6 cây và căn cứ vào chỉ số tần suất xuất hiện để xác định mối quan hệ. Kết quả như sau: Xoan nhừ thường phân bố ở trạng thái rừng hỗn loài lá rộng thường xanh phục hồi sau khai thác nhiều năm; Nằm ở tầng trên của tán rừng với D1.3, Hvn lớn hơn các loài cây bạn; số loài cây xuất hiện cùng Xoan nhừ tương đối cao tại hai khu vực nghiên cứu (Lào Cai và Sơn La).


Triển vọng gỗ lớn của một số mô hình trồng các loài keo ở Bình Định và Phú Yên

Nội dung bài viết đề cập nếu quan niệm rừng trồng gỗ lớn có đường kính ngang ngực trung bình thì các mô hình trồng Keo lai (A. hybrids) từ 6-10 năm tuổi trồng ở Bình Định và Phú Yên chưa có khả năng cung cấp gỗ lớn, mô hình tốt nhất cũng chỉ có D1,3 ≈ 16,67cm, mô hình kém nhất có D1,3 ≈ 9,18cm; trữ lượng gỗ cây đứng (M) cao nhất ≈ 133,51m3/ha, thấp nhất ≈ 57,96m3/ha/năm; năng suất gỗ (∆M) cao nhất cũng chỉ đạt 19,07m3/ha/năm và thấp nhất là 9,06m3/ha/năm. Keo tai tượng (A. mangium) có hai mô hình điển hình đã có khả năng cung cấp gỗ lớn, mô hình 10 năm tuổi ở Bình Định, đường kính trung bình (D1,3) ≈23,38cm, trữ lượng gỗ cây đứng (M) ≈ 231,88m3/ha, năng suất (∆M) ≈ 23,19m3 /ha/năm.


Nghiên cứu ảnh hưởng của đất và phân bón đến chất lượng cây sưa trong giai đoạn vườn ươm

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của đất và phân bón đến cây Sưa trong giai đoạn vườn ươm với 15 công thức, bao gồm 5 công thức đất (đất đồi, đất màu, đất phù sa, đất đồi + đất màu và đất đồi + đất phù sa) kết hợp với 3 công thức phân bón (2g chế phẩm vi sinh MF1/cây, 8g phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh/cây và đối chứng không bón). Sau 30 ngày tuổi, sinh trưởng của cây ở công thức bón MF1 vượt 32,1% về chiều cao và 14,3% về đường kính cổ rễ so với đối chứng; Tỷ lệ bị bệnh thối cổ rễ ở công thức bón MF1 giảm tương ứng là 69,6% và 79,5% so với bón phân Sông Gianh và đối chứng...


Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ trong thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích song mây tại Vườn quốc gia Bạch Mã ở xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bố loài mây nước có liên quan đến trạng thái cấu trúc của cây gỗ, cự ly so với nơi cư trú và địa hình. Những khu vực có mây nước phân bố chủ yếu được xác định là những địa điểm cho phép chia sẻ lợi ích bao gồm rừng phục hồi/ nghèo và rừng cây bụi. Sản lượng mây cho phép khai thác được xác định dựa vào lượng tăng trưởng bình quân chung theo phương pháp có sự tham gia kết hợp tri thức bản địa của người dân địa phương về nhận dạng hình thái mây trên thực địa. Kết quả cũng xác định được ba nguy cơ có thể xảy ra, đó là lợi dụng để khai thác quá mức loài mây, lợi dụng để khai thác gỗ bất hợp pháp, và lợi dụng để săn bắt, đặt bẫy các động vật hoang dã.


Cơ sở khoa học bước đầu chuyển hóa rừng trồng keo lai cung cấp gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn ở Đông Nam Bộ

Nội dung bài viết trình bày keo lai (Acacia hybrid) thường trồng để cung cấp gỗ nhỏ cho chế biến bột giấy và ván dăm. Nhưng do nhu cầu gỗ xẻ ngày càng tăng nên Keo lai cũng được sử dụng làm gỗ lớn – gỗ xẻ. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và biện pháp tỉa thưa đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng rừng là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tế.


Vài ý kiến về việc nghiên cứu chọn và cải thiện giống keo và bạch đàn ở Việt Nam

Nội dung bài viết đề cập vấn đề đặt ra là phải khắc phục các hạn chế trên, chú ý chọn giống theo hướng đa dạng sản phẩm, đa dạng lập địa, đa dạng loài ngay cả với keo, bạch đàn, nhất là vùng cao và cây bản địa cũng như cây cho lâm sản ngoài gỗ. Đặc biệt phải coi trọng khả năng chống chịu, ngoài tính chống chịu bệnh còn có các tính chống chịu khác như gió bão, úng ngập, khô hạn, mặn kiềm...


Hiệu quả kinh doanh rừng trồng keo lai tại Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh rừng trồng Keo lai ở Ban quản lý rừng Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu nghiên cứu là phân tích so sánh hiệu quả kinh doanh rừng trồng Keo lai theo những chu kỳ khai thác khác nhau làm cơ sở xác định chu kỳ khai thác tối ưu về kinh tế. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã áp dụng phương pháp phân tích tài chính trong trồng rừng. Những chỉ tiêu phân tích tài chính bao gồm hiện giá thuần, tỷ lệ lợi ích/chi phí và suất nội hoàn.


Lựa chọn lập địa cho trồng rừng gỗ lớn nhằm đạt giá trị và hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường

Nội dung bài viết trình bày về lựa chọn lập địa là một bước quan trọng hướng tới đảm bảo rằng trồng rừng gỗ lớn có khả năng đạt giá trị và hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường. Các yếu tố cấu thành lập địa gồm: (i) Thành phần khí hậu; (ii) Thành phần địa hình; (iii) Thành phần thổ nhưỡng; (iv) Thành phần thực vật; và (v) Hoạt động sản xuất của con người. Trong các yếu tố điều tra thì các yếu tố loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, hàm lượng OM tổng số, thực bì chỉ thị rất phù hợp với nhu cầu của loại cây trồng rừng gỗ lớn, đảm bảo cho rừng trồng gỗ lớn sinh trưởng tốt, năng suất cao.


Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nguy cơ cháy rừng ở vùng Tây Bắc Việt Nam

Nghiên cứu này có mục tiêu làm sáng tỏ ảnh hưởng của BĐKH đến nguy cơ cháy rừng ở vùng Tây Bắc. Trong khung cảnh các quá trình biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra mạnh mẽ và ngày càng phức tạp, Tây Bắc là một trong những vùng chịu tác động mạnh nhất của nước ta do đặc điểm địa hình phức tạp và trình độ phát triển còn thấp, khả năng thích ứng kém hơn so với mặt bằng chung cả nước.


Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và mối quan hệ loài của dẻ gai Phú Thọ (Castanopsis phuthoensis luong) trong rừng thứ sinh phục hồi ở Cầu Hai, Phú Thọ

Nội dung bài viết đề cập dẻ gai phú thọ là loài cây bản địa đặc hữu của tỉnh Phú Thọ, có phân bố hẹp tại 2 xã thuộc huyện Đoan Hùng, khả năng tái sinh kém nên cần có nghiên cứu về cấu trúc và mối quan hệ loài của nó với các loài cây bạn để xác định hướng bảo tồn nguồn gen quý của loài cây này. Kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng cho thấy Dẻ gai phú thọ là loài cây chiếm ưu thế trong rừng thứ sinh phục hồi, có chỉ số IV trên 5% ở rừng khoanh nuôi và làm giàu rừng lỗ trống, đặc biệt rừng khoanh nuôi mật độ trung bình và cao chỉ số IV đạt xấp xỉ 10%, làm giàu rừng lỗ trống có IV đạt 17,9% nhưng mật.độ của Dẻ gai phú thọ ở các trạng thái rừng phục hồi rất thấp, trung bình chỉ có 3,3 - 11,1 cây/ha.


Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Nghiên cứu được thực hiện ở vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên nhằm mục đích lựa chọn các biện pháp kỹ thuật trồng rừng và những loài cây trồng phù hợp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống của 5 loài cây được thử nghiệm đạt khá cao từ 75-87,1%, lượng tăng trưởng bình quân về đường kính đạt 1,1 – 1,4 cm/năm; tăng trưởng bình quân về chiều cao tổng số là 0,8-1,2 m/năm, trong đó các loài Sao đen, Lim xanh, Thanh thất tỏ ra phù hợp hơn so với Dầu rái và Muồng đen.


Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng IIa và IIIa2 làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý rừng bền vững tại huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang

Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cây gỗ tham gia vào công thức tổ thành ở các trạng thái rừng từ 5-7 loài, có tổng trị số IV% biến động trong khoảng từ 59,8-77,4%. Tổ thành theo nhóm gỗ ở trạng thái IIA tập trung chủ yếu ở nhóm gỗ V-VII, trạng thái rừng IIIA2 nhóm gỗ I, II, III chiếm 36,2%. Phân bố cây trên mặt đất rừng có hai dạng là phân bố đều và ngẫu nhiên ở xã hợp IIA-1. Mô phỏng phân bố NL/D, N/D theo hàm Weibull có dạng phân bố giảm, phân bố N/H theo hàm Weibull có một đỉnh lệch trái.


Kết nối phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn với phát triển bền vững ở Tây Nguyên

Bài viết đã thảo luận về 6 lựa chọn chiến lược có thể tối ưu hóa để liên kết bảo vệ rừng đầu nguồn với phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Tây Nguyên. Cụ thể là: (1) Kết nối bảo vệ rừng đầu nguồn với cung cấp nước sạch; (2) Kết nối rừng đầu nguồn với việc bảo vệ đất và nước, bảo vệ thoái hóa đất và các lợi ích thủy văn; (3) Kết nối bảo vệ rừng đầu nguồn với biến đổi khí hậu; (4) Kết nối bảo vệ rừng đầu nguồn với du lịch bền vững; (5) Kết nối rừng đầu nguồn với các lợi ích đa dạng sinh học; và (6) Kết nối bảo vệ rừng đầu nguồn với các nền văn hóa bản địa


Kết quả giâm hom bạch đàn grandis (Eucalyptus grandis l.) tại Đà Lạt

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định loại, nồng độ chất điều hòa sinh trưởng và giá thể tốt nhất cho giâm hom Bạch đàn grandis. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng IAA, IBA và NAA với nồng độ từ 0,5%; 1%; 1,5%; 2% ở dạng bột than đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Thí nghiệm cũng được tiến hành trên 2 loại giá thể là cát sông rửa sạch và tầng đất mặt.


Đa dạng thực vật thân gỗ tự nhiên và hiện trạng khai thác tài nguyên thực vật rừng tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm - Thành phố Hội An

Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu tập trung đặc điểm đa dạng thực vật thân gỗ tự nhiên và hiện trạng khai thác tài nguyên rừng Cù Lao Chàm. Trên khu vực nghiên cứu tiến hành điều tra, khảo sát 10 ô tiêu chuẩn, tác giả xác định được 43 loài thực vật thân gỗ tự nhiên thuộc 26 họ. Dạng phân bố không gian của loài trong quần xã thực vật phần lớn đều có giá trị A/F 0,05 và có dạng phân bố lan truyền Contagious.


Nghiên cứu tái sinh tự nhiên của cây đinh đũa (Stereospermum colais (Dillw) Mabberl) dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng

Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng tái sinh tự nhiên trong điều kiện tự nhiên và gây trồng tại Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Xuân Mai (Hà Nội) cho thấy, đinh đũa là loài cây bản địa có khả năng tái sinh hạt và cả tái sinh chồi khá mạnh. Trong điều kiện gây trồng khả năng tái sinh tự nhiên của loài. Đinh đũa diễn ra mạnh mẽ, trong khi ở rừng tự nhiên chưa phát hiện thấy tái sinh tự nhiên xuất hiện, và tái sinh tự nhiên xuất hiện hạn chế ở khu cây trồng phân tán.


Đánh giá sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý rừng đặc dụng vùng Tây Bắc

Nội dung bài viết đề cập việc quản lý tài nguyên rừng đặc dụng (RĐD) ở các Vườn Quốc gia hay các Khu bảo tồn (VQG/KBT) đã có những thay đổi theo hướng tích cực. Quan điểm về quản lý các khu RĐD đã chuyển từ “bảo tồn nghiêm ngặt” sang “bảo tồn và phát triển” và “bảo tồn đa mục tiêu”. Trách nhiệm quản lý không chỉ giới hạn ở Ban quản lý VQG/KBT mà từng bước được xã hội hóa và thu hút nhiều bên liên quan cùng tham gia. Vai trò của chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư được thể hiện rõ bên cạnh vai trò chính của Ban quản lý VQG/KBT.


Nghiên cứu mật độ bào tử nấm ceratocystis manginecans phát tán trong rừng keo lá tràm, keo lai và keo tai tượng tại Việt Nam

Nội dung bài viết trình bày bệnh chết héo do nấm Ceratocystis manginecans gây hại rừng trồng các loài keo đang là vấn đề lớn ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Thí.nghiệm bẫy bào tử nấm C. manginecans bằng lam kính được phủ kín hai mặt bằng vaselin trong các lô rừng đã được xác định bị bệnh chết héo gây hại gồm rừng Keo lá tràm tại Bình Dương và Đồng Nai; rừng keo lai tại Tuyên Quang và Yên Bái; rừng Keo tai tượng tại Phú Thọ và Yên Bái để xác định độ cao phát tán và mật độ phát tán bào tử nấm C. manginecans.


Biến động chất lượng cây trong các mô hình rừng trồng sao đen (Hopea odorata) và dầu rái (Dipterocarpus alatus) tại khu bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Đề tài nghiên cứu một số đặc trưng cơ bản về số lượng và chất lượng cây trồng trong các mô hình phục hồi rừng cây bản địa gỗ lớn bằng Sao đen và Dầu rái tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai nhằm xác định tỷ lệ sống và chất lượng rừng trồng theo các kỹ thuật trồng khác nhau. Kết quả nghiên.cứu cho thấy: i) Phương pháp trồng đã ảnh hưởng rõ tới tỷ lệ sống; nhìn chung tỷ lệ sống loài Sao đen thấp hơn so với dầu rái, nhưng sai lệch không.có ý nghĩa về thống kê; ii) Tỷ lệ sống của những loài này còn có quan hệ chặt chẽ với thời gian (tuổi)...


Kết quả đánh giá bước đầu về thử nghiệm trồng một số loài cây mọc nhanh, cây bản địa có giá trị kinh tế trong trồng rừng và làm giàu rừng ở vùng Đông Nam Bộ

Nội dung bài viết đề cập việc sử dụng cây mọc nhanh trong trồng rừng đáp ứng nguyên liệu gỗ đã được Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ nghiên cứu từ năm 2002. Đến nay, sau hơn 10 năm trồng rừng, kết quả cho thấy có 6 loài cây có thể sử dụng trồng rừng ở vùng Đông Nam Bộ đó là: Thanh thất, Lõi Thọ, Thúi, Lát Mehicô, Muồng đen và Gáo. Một số loài cây bản địa, gỗ quý có thể gây trồng vừa cung cấp gỗ vừa có giá trị bảo tồn nguồn gen đó là các loài: Lim xanh, Trôm, Gụ mật, Cẩm Lai Bà Rịa. Đối với làm giàu rừng sử dụng các loài Lim xanh, Muồng đen, Xà cừ, Nhạc ngựa,...


Kết quả nghiên cứu thành phần sâu, bệnh hại một số loài cây trồng rừng chính tại Việt Nam

Nghiên cứu tiến hành điều tra thành phần sâu, bệnh hại 17 loài cây trồng rừng chính trong sản xuất lâm nghiệp bao gồm: Keo lá tràm, keo lai, Keo tai tượng, Phi lao, Quế, Luồng, Dầu rái, Bạch đàn camal, bạch đàn lai, Bạch đàn urô, Cao su, Sao đen, Thông caribê, Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá và Bồ đề được tiến hành ở 9.vùng sinh thái trong giai đoạn 2012 đến 2015...


Thành phần loài và biến động diện tích rừng ngập mặn tỉnh Hà Tĩnh

Nội dung bài viết trình bày hệ sinh thái rừng ngập mặn Hà Tĩnh tập trung phần lớn ở các khu vực cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu. Kết quả đã xác định được 22 loài thực vật ngập mặn (TVNM), thuộc 22 chi, 18 họ của 2 ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta) tại khu vực nghiên cứu; trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 94,4% tổng số họ và 95,5% tổng số loài. Trong 22 loài TVNM, có 9 loài cây ngập mặn chính thức (MS) và 13 loài cây tham gia ngập mặn (MAS).


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

CTV FACE

Có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn khai thác gỗ
  • 26/06/2013
  • 64.878
  • 293
Đước
  • 13/01/2010
  • 93.546
  • 685

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu